Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

Hãy biết quyền của mình (1): Chụp ảnh công an

Bốn năm về trước, vào một buổi tối cuối tháng 8, tôi bị “bắt khẩn cấp” tại một quán café ở trung tâm Hà Nội, với tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”, vi phạm Điều 258 Bộ luật Hình sự.
Tôi vẫn nhớ rõ họ tên, vẻ mặt hầm hầm đe dọa và giọng trấn áp của viên sĩ quan an ninh đọc lệnh bắt ngày hôm đó. Tôi cũng nhớ tôi đã như thế nào những ngày sau đó: ngơ ngác, ngây ngô, và bất lực. Đã có lúc tôi bật khóc trong phòng hỏi cung vì không biết phải làm sao để cơ quan an ninh điều tra tin rằng mình không làm gì thật, không liên quan gì, và không hiểu tại sao đây lại là vấn đề an ninh quốc gia. Đã có nhiều lúc tôi tái mặt, run lẩy bẩy, vì không biết… tội đâu ra mà lắm thế, sao tôi phạm những tội nghiêm trọng thế, như thế này phải ngồi tù bao nhiêu năm đây…
Vào những ngày ấy, tôi không bao giờ nghĩ rằng bốn năm sau, tôi sẽ là một trong những người ký tên vào bản Tuyên bố 258 của Mạng lưới blogger Việt Nam, yêu cầu Nhà nước xoá bỏ Điều 258 Bộ luật Hình sự để chứng tỏ cam kết khi chạy đua vào vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ.
Nhưng có một điều tôi vẫn nghĩ suốt từ đó đến nay, và ngày càng nghĩ nhiều hơn: Luật pháp phải là công cụ bảo vệ quyền tự do của người dân, chứ không phải bảo vệ chế độ; và người dân phải hiểu luật pháp ở mức tối thiểu – tức là hiểu các quyền tự do của mình, nếu không họ sẽ bị Nhà nước lợi dụng, trấn áp, nói nôm na là “bắt nạt”.
Càng chứng kiến những vụ việc công an, an ninh lạm quyền để “được việc mình” mà gây thiệt hại cho xã hội, cho người dân, tôi càng thấy những hiểu biết căn bản về chính trị, về luật pháp, các khái niệm như nhà nước pháp quyền, tinh thần thượng tôn pháp luật, nhân quyền, v.v. đã trở thành nhu cầu khẩn thiết đối với chúng ta. Hãy biết quyền của mình. Hãy biết cách sử dụng pháp luật như công cụ để tự bảo vệ. Và khi hệ thống pháp luật đó bất ổn, hãy biết tìm cách bác bỏ nó.
Trong chừng mực trình độ rất hạn chế của mình, tôi sẽ cố gắng, cả gan làm một việc vượt quá sức, là viết những bài viết rất đơn giản về luật pháp và nhân quyền, gắn với các tình huống cụ thể trong đời thực, để chúng ta cùng tìm hiểu về lĩnh vực rộng lớn, phức tạp và đang cực kỳ cần thiết trong việc cải tạo xã hội này.
Những điều tôi viết chắc chắn không phải là chân lý, và xin để ngỏ mọi khả năng khác để độc giả thảo luận và kết luận.
Câu chuyện hôm nay bắt đầu bằng một tình huống xảy ra mới đây mà tôi có dự phần.
* * *
CHỤP ẢNH CÔNG AN
Tình huống
Vào ngày thứ sáu, 9/8/2013, một nhân viên an ninh đến nhà tôi, như đã hẹn với mẹ tôi trước đó qua điện thoại, gọi là “đến chơi, nói chuyện”. Mẹ tôi không quen biết cô ấy, còn tôi thì biết nhưng lại không có nhà, nói đúng hơn, không ở Việt Nam: Tôi đang ở Bangkok (Thái Lan) để tham gia việc trao Tuyên bố 258 cho một số tổ chức quốc tế đóng tại Bangkok.
Hôm đó trời Hà Nội mưa gió, và cô ấy đã đến nhà tôi đúng hẹn. Ngoài mẹ tôi và cô nhân viên an ninh, trong nhà còn có thêm một số bạn bè của tôi, đều là blogger. Cuộc trò chuyện, tất nhiên, chủ yếu xoay quanh tôi và công việc tôi làm. Không khí hòa nhã. Tuy nhiên, giữa chừng thì thêm một blogger xuất hiện: anh Nguyễn Chí Đức. Anh giơ máy ảnh nhằm vào nhân viên an ninh, bấm “tách”.
Nhân viên an ninh tái mét mặt, nổi giận, mắng anh Chí Đức là “vô văn hoá”, tự ý chụp ảnh mà không xin phép. Mẹ tôi can, nói rằng “đây là nhà tôi kia mà”, “anh ấy thích chụp ảnh bạn anh ấy thì có sao”. Nhưng cô nhân viên an ninh vẫn cực kỳ giận dữ, to tiếng và bỏ về, sau đó gọi điện lại nói với mẹ tôi: “Nếu bác còn mời bạn bè của Đoan Trang đến nữa thì chỉ làm khổ con bác thôi”.

Vấn đề
Câu hỏi đặt ra ở đây là: Hành động chụp ảnh khi chưa xin phép người được/bị chụp của anh Nguyễn Chí Đức có sai không?
Đây là câu trả lời của tôi:
Việc anh Nguyễn Chí Đức chụp ảnh nhân viên an ninh là việc không phải xin phép, và đúng luật. Bởi vì anh Đức đang ghi hình một nhân viên công quyền, nhận tiền thuế của dân để tiến hành một công vụ, cụ thể là đi làm việc với một người dân thường (công dân).
Hành động của anh Đức nằm trong phạm trù giám sát cơ quan công quyền và nhân viên công lực. Nó hợp hiến (Điều 53 Hiến pháp, “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội”), và phù hợp với tinh thần pháp luật “công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm”, “công dân có quyền giám sát nhân viên công quyền”.
Nhân viên an ninh có thể lập luận (giả định): “Nhưng tôi chỉ đến nhà bà mẹ của Đoan Trang để chơi, thăm hỏi, nói chuyện cho vui, chứ tôi không làm công vụ. Công dân Nguyễn Chí Đức chụp ảnh tôi là vi phạm Điều 31 Bộ luật Dân sự về quyền của cá nhân đối với hình ảnh”.
Câu trả lời của tôi là: Các nhân viên an ninh, công an (gọi chung là công an) lâu nay thường né tránh yếu tố “công vụ” bằng cách nói rằng họ chỉ “tiếp xúc thân tình”, “mời café, trao đổi” với “đối tượng” mà thôi, không có gì nghiêm trọng. Nhưng có 3 vấn đề ở đây:
1. Nếu đề nghị gặp gỡ thân mật, vui vẻ, họ phải được sự đồng ý và hưởng ứng cũng vui vẻ như thế của bên kia; và câu chuyện không được liên quan tới những thông tin có thể gây bất lợi cho bên kia hoặc cho một bên thứ ba.
2. Nếu đề nghị gặp gỡ thân mật, công an không được tự giới thiệu rằng họ là nhân viên công quyền; trong thời gian gặp, tuyệt đối không được khai thác thông tin và không được sử dụng thông tin thu được (nếu có) vào bất kỳ mục đích gì.
3. Và, quan trọng nhất, khi được/bị công an “mời café, trao đổi”, “tiếp xúc thân tình”, công dân có quyền từ chối.
Toàn bộ thông tin đều cho thấy buổi thăm hỏi hôm đó của nhân viên an ninh chính xác là thi hành một công vụ, và do vậy, nhân viên công quyền hoàn toàn có thể bị công dân chụp ảnh và đưa lên mạng sau đó mà không được hỏi ý kiến trước.
Ảnh: AFP
Trích dẫn
“Việc thực hiện quay phim, chụp ảnh là quyền của người dân và đó là hoạt động thể hiện chức năng kiểm tra, giám sát của người dân đối với hoạt động của cơ quan công an. Do đó người dân sử dụng máy quay phim, chụp ảnh đối với công an không phải là sai phạm” (Thượng tướng Lê Thế Tiệm trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ, bài đăng ngày 4/12/2010.)
“Khủng bố tinh thần người thân và bạn bè là ‘nghiệp vụ’ cơ bản và quen thuộc của những viên an ninh điều tra, nhất là với những người được/bị cho là bất đồng chính kiến với chính quyền. Tiếc rằng không mấy người dân hiền lành nào biết cách đối phó với những thủ đoạn có tính chất “bụi đời chợ Lớn” nhưng khoác trên mình tấm vỏ bọc màu xanh. Đôi khi sự sợ hãi làm cho nhiều người quên mất một điều cơ bản rằng: mình liên quan gì đến việc này mà phải khai báo với mấy ông công an về chuyện của con mình, bạn mình? Hậu quả là, họ càng sợ hãi bao nhiêu, công an càng khai thác họ nhiều bấy nhiêu” (Luật gia – nhà báo Trịnh Hữu Long, tức Facebooker Trịnh Hự).
Kỳ sau: Giới hạn của hoạt động theo dõi

Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2013

Tôn vinh cái gì? Thói háo danh hay thành tích học thuật?

Hôm nay Tia Sáng có một bài viết của Lại Nguyên Ân rất đáng đọc. Bài viết bàn về câu chuyện văn bia tiến sĩ hiện đại. Câu chuyện chung quanh trung tâm tiến sĩ (ấy là tôi gọi cho gọn) càng ngày càng thu hút nhiều người thảo luận, nhưng tôi nghĩ bài trên Tia Sáng quả là nặng kí.
Đọc đến đoạn
Cách đây ít năm, đã có một nỗ lực cùng loại nhưng tầm cỡ nhỏ hơn: một nhóm nào đó đứng ra tổ chức tiếp cận những người có bằng tiến sĩ các loại, tập hợp tư liệu tiểu sử, ảnh chân dung và liệt kê công trình khoa học rồi in thành 2 tập “Tiến sĩ Việt Nam hiện đại”, nghe nói bán rất chạy; rất chạy là vì mỗi vị có tên trong đó sẽ mua ít nhất 1 cuốn! Còn tác dụng của 2 tập sách mỗi cuốn trên dưới ngàn trang in đó thì không thấy ai nói là có hay không!”
làm tôi nhớ đến một câu chuyện vui cũng lâu rồi. Sáng hôm đó một nghiên cứu sinh trong lab tôi (nguyên là bác sĩ về ung thư) gõ cửa office tôi vui vẻ nói cô được Who is Who in Medicine chọn để đưa tiểu sử và công trình của cô vào sách. Cái Who is Who in Medicine này thậm chí còn gửi hẳn một mẫu giấy chứng chỉ rất đẹp (giấy cứng) in tên cô một cách trang trọng. Cô hỏi tôi có nên báo cho Viện biết là mình vừa nhận được một vinh dự? Tôi cũng có kinh nghiệm vụ này (vì hồi xưa tôi cũng nằm trong tình thế của cô ấy và được thầy giải thích), nên bảo cô ngồi xuống và giải thích câu chuyện đằng sau cái “vinh dự” này. 
Nói một cách ngắn gọn đó chỉ là một mánh khóe làm tiền rất hay của một số công ti bên Mĩ. Họ hiểu được và khai thác triệt để tâm lí của giới trẻ mới vào khoa học (muốn lưu danh hậu thế) để làm tiền.Hàng năm, mấy công ti này truy tìm trong các tập san khoa học để tìm các tác giả mới xuất hiện. Họ thừa biết đây là những nghiên cứu sinh đang làm tiến sĩ hay thạc sĩ, và chưa có kinh nghiệm nên dễ bị gạt. Khi thấy có tên tác giả mới, họ bèn gửi một lá thư cho tác giả, thường có nội dung đại khái như "Chúng tôi hân hạnh báo tin cho bạn biết rằng bạn đã được một hội đồng khoa học bình chọn làm nhân vật xuất sắc trong năm qua đóng góp của bạn cho ngành XYZ. Chúng tôi xin thành thật chúc mừng bạn. Để vinh danh bạn, chúng tôi muốn đưa tiểu sử bạn vào kỉ yếu ABC. blah blah blah...." Nếu đương sự ok, họ làm thủ tục gọn nhẹ. Xong xuôi đâu đó, họ không quên gửi một invoice. Thông thường, người có tên trong sách phải trả họ khoảng 300 hay 500 USD và họ gửi cho một cuốn sách dầy cộm. Nhưng nếu năm sau không trả tiền cho họ thì họ sẽ loại tên ra khỏi sách.
Không phải chỉ Who is Who in Medicine mà còn cả hàng trăm công ti khác cũng làm tiền như thế. Có công ti còn lấy tên rất kêu như “Academy” để kết nạp hội viên. Trong thực tế, có nhiều nhà khoa học trong nước bị làm tiền vì cái trò này. Mấy năm trước khi về Hà Nội tôi còn nghe một câu chuyện vui mà có thật: một nhà khoa học nọ ở Hà Nội (sau này trở thành người tích phản kháng chính quyền) được New York Academy of Science kết nạp làm hội viên, và thế là ông mở tiệc ăn mừng suốt 3 ngày liền, rồi gắn danh hiệu viện sĩ trước tên mình. Chính vì câu chuyện này nên tôi có cảm hứng viết bài những ngộ nhận danh xưng tốn kém trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn.
Nay có nhóm trong nước muốn làm theo kiểu này. Thật ra, người chủ trương kinh doanh như thế chẳng có gì sai, vì chỉ là business thôi mà. Mà, business này cũng chẳng có gì bất chính. Chỉ có nhà khoa học hay các vị tiến sĩ bị làm con cờ và đơn vị cho họ làm tiền mới là đáng nói.
NVT
====
Tôn vinh cái gì? Thói háo danh hay thành tích học thuật?

11:09-08/10/2008
Suốt hàng chục năm nay, dư luận đã không ngớt truy kích bệnh háo danh, thói sính bằng cấp đang là nguyên cớ bề sâu của nhiều tệ nạn xã hội, không chỉ liên quan đến học hành thi cử mà còn đến cả những chuyện mua bán bằng cấp, chạy chức chạy quyền, liên quan đến công tác cán bộ, công tác nhân sự nói chung. Ấy thế nhưng chừng như căn bệnh này không hề thuyên giảm trước mọi sự công kích; một trong những biểu hiện nổi cộm hiện tại là sự xuất hiện cả một “Trung tâm bảo tồn di sản tiến sĩ Việt Nam thời hiện đại”, đang chuẩn bị xây dựng một Văn Miếu hiện đại rộng hàng mấy chục hecta, dựng bia đá ghi danh các tiến sĩ thời nay.
Cách đây ít năm, đã có một nỗ lực cùng loại nhưng tầm cỡ nhỏ hơn: một nhóm nào đó đứng ra tổ chức tiếp cận những người có bằng tiến sĩ các loại, tập hợp tư liệu tiểu sử, ảnh chân dung và liệt kê công trình khoa học rồi in thành 2 tập “Tiến sĩ Việt Nam hiện đại”, nghe nói bán rất chạy; rất chạy là vì mỗi vị có tên trong đó sẽ mua ít nhất 1 cuốn! Còn tác dụng của 2 tập sách mỗi cuốn trên dưới ngàn trang in đó thì không thấy ai nói là có hay không!

Cách dựng “bia giấy” kể trên dẫu sao cũng “không là cái đinh gì” so với dự án vừa được công bố. Một điều rất đáng chú ý: đứng chủ trương công việc của trung tâm nói trên là những tên tuổi đã từng đứng đầu các cơ quan Nhà nước về khoa học và giáo dục. Căn bệnh sính bằng cấp, thói háo danh, qua dữ kiện về nhân sự này, càng cho thấy mức trầm kha của nó trong xã hội ta.

Thiết nghĩ nên nhìn thẳng để thấy ý nghĩa hai mặt (thậm chí nhiều mặt), ngay của những di tích như Văn Miếu Quốc tử Giám với những tấm bia khắc tên các tiến sĩ thời trước; hoặc các di tích Văn miếu, văn chỉ, còn sót lại nơi một số làng xã. Một mặt, toàn bộ các di tích ấy là bằng chứng về truyền thống hiếu học của dân ta, riêng Văn Miếu Quốc tử Giám còn là bằng chứng về sự xuất hiện khá sớm của các thiết chế giáo dục đào tạo trong chính sách của Nhà nước quân chủ trên đất nước ta mà các tấm bia khắc tên những người đỗ đạt cao đó là minh chứng rõ rệt. Nhưng mặt khác, các di tích ấy, những tấm bia khắc tên ấy cũng gắn với một trong những thói tật của người Việt đời xưa: đi học chỉ cốt đỗ đạt để được làm quan, khi đã quan cao bổng hậu, vinh thân phì gia rồi thì không “học” thêm gì nữa, chẳng có công tích gì đáng kể, đến nỗi ngoài mấy ký tự còn lại trên đá thì người mang họ tên ấy hầu như chẳng có công trình tác phẩm gì để lại cho đời.

Cho nên, với Văn Miếu, của ngày xưa hay của ngày nay, vấn đề là duy trì nó, dựng mới nó để tôn vinh cái gì? Để làm thỏa mãn thói háo danh, thói sính bằng cấp vốn cũng rất có “bề dày truyền thống” của người đời nay, hay tôn vinh thành tích học thuật của các nhà khoa học tiêu biểu, những người có thể có hoặc không có tấm bằng tiến sĩ nhưng có công trình thật sự, được thừa nhận thật sự?

Ở khía cạnh tôn vinh thành tích học thuật của những nhà khoa học tiêu biểu, theo tôi, hoạt động của trung tâm vừa thành lập kể trên có thể nên được tiếp tục, nhưng nội dung công việc, − và cả tên gọi của trung tâm nữa, − cần có ít nhiều thay đổi. Vấn đề chính trong nội dung là: nên tôn vinh những nhà khoa học có thành tích học thuật thật sự, có công trình, có đóng góp thật sự vào các ngành khoa học ở trong hoặc ngoài nước. 
Còn đối với những người đã đỗ tiến sĩ, có nên ghi nhận không? Thiết nghĩ nên hay không là tùy thuộc sự suy nghĩ của chúng ta, − tức là suy nghĩ của dân chúng và nhất là của giới trí thức.

Nên nghĩ thế nào về “tiến sĩ”? Tạm bỏ qua mọi thứ lộn sòng, gian dối liên quan đến việc mưu cầu tấm bằng “tiến sĩ”, ở trong hay ở ngoài nước, ta hãy chỉ cần nhớ đó là quy chế được đánh dấu cho bậc (= học vị) cao nhất về học vấn của người đi học. Nghĩa là “tiến sĩ” dù sao cũng là dấu hiệu thuộc tư cách học trò. Đối với cuộc đời, đối với nhân quần, điều đáng quan tâm trước hết không phải là con người kia có bằng cấp gì, mà là con người có học vấn nào đó đã làm được những gì có ích, ví dụ, mở mang gì thêm cho tri thức, tạo ra cái gì mới về kỹ năng làm việc, đóng góp gì mới vào sự tiện nghi của đời sống con người? Nói cách khác, việc người ta đi học để có được những tấm bằng “cử nhân”, “thạc sĩ”, “tiến sĩ”, − chủ yếu vẫn là việc của mình và cho mình; việc người ta phát minh, sáng chế, làm ra công trình, tác phẩm, − mới là việc vì người khác, vì cộng đồng. Người ta chỉ nên tôn vinh những hành động vì cộng đồng, vì nhân loại.
Theo tôi, hoạt động của trung tâm nói trên nên hướng vào phạm trù “nhà khoa học” thay vì phạm trù “tiến sĩ”. Hoạt động chính ở đây là lập bảo tàng danh nhân khoa học người Việt.
Nếu hiểu vấn đề theo cách như vậy thì, theo tôi, hoạt động của trung tâm nói trên nên hướng vào phạm trù “nhà khoa học” thay vì phạm trù “tiến sĩ”. Hoạt động chính ở đây là lập bảo tàng danh nhân khoa học người Việt. Hoạt động này cũng tương tự hoạt động làm bảo tàng văn học mà Hội nhà văn đang chủ trì, khác chăng là những người làm nghề bảo tàng khác nhau sẽ có sáng kiến khác nhau.

Nhân nói đến di sản của các nhà khoa học, tôi lại nghĩ đến một tình trạng hầu như trái ngược nhau khá phổ biến ở ta, ấy là sau khi một học giả tầm cỡ nằm xuống, sau tang lễ trọng thể ít lâu sẽ có việc truy tặng huân chương, giải thưởng, những hội thảo, kỷ niệm rầm rộ, v.v… nhưng chỉ có một việc rất ít khi được tiến hành: ấy là lập những nhóm chuyên gia và nhân viên để kiểm kê tủ sách, giấy tờ, bản thảo của người quá cố, để xem có những tác phẩm nào còn bỏ dở, những thư từ ghi chép ra sao, tóm lại là kiểm định phần thật sự là di cảo, bên cạnh phần công trình tác phẩm đã công bố. Từ vài chục năm trước trong dư luận đã có những lời ta thán về chuyện tủ sách cũ của học giả này hay học giả kia không được bảo quản tốt, đến nỗi để các cháu nhỏ đem xé sách quý chữ nho ra phất diều thả chơi.

Nói rộng ra, nên thấy tình trạng yếu kém cả ở việc nghiên cứu về nhân vật trong sử học lẫn việc nghiên cứu tác gia trong văn học, − yếu kém từ sưu tầm tập hợp tư liệu hiện vật đến khái quát chung về cuộc đời những con người tiêu biểu về những phương diện nào đó; biểu hiện rõ nhất là các tác gia người Việt chúng ta chưa viết ra được cuốn tiểu sử nào đạt chuẩn khiến giới biên khảo nước ngoài buộc phải dịch ra tiếng nước họ thay vì đầu tư cho chuyên gia của họ đi tìm hiểu để viết ra. Nên nhận ra điều này, ngay về những nhân vật lớn người Việt mà thế giới cần biết nhất.

Phải chăng hoạt động của những cơ sở như trung tâm nói trên sẽ hướng tới những chuẩn mực cao về bảo tồn di sản các nhân vật lịch sử, cụ thể là của những học giả Việt Nam tiêu biểu ở thời hiện đại?
Lại Nguyên Ân
Nguồn: tuannguyenvan.blogspot.com

Tại sao người ta thích danh xưng?

Tôi khổ tâm nhất là chuyện danh xưng, hay phải nói đúng hơn là “vấn đề danh xưng”. Tôi thỉnh thoảng viết báo và không bao giờ sử dụng đến danh xưng, thế nhưng những người biên tập vẫn chêm vào những danh xưng trước tên tôi, làm tôi rất khổ với Ba tôi lúc sinh tiền. Ba tôi mỗi lần đọc được một bài báo với tên tôi tác giả và có kèm theo mấy chữ nhí nhố trước tên là ông nói xa nói gần rằng có người hám danh, thiếu tự tin, nên dùng đến những danh hiệu phù phiếm. Tôi biết Ba tôi nói ai, và tôi thấy mình oan lắm. Có nhiều người như tôi, không bao giờ dùng danh xưng trước tên mình, nhưng vì ban biên tập thêm vào để -- nói theo họ -- là tăng trọng lượng của bài báo! Tôi không hiểu tại sao ý kiến của một giáo sư hay tiến sĩ phải có trọng lượng hơn ý kiến của một người bán vé số? Thật là vô lí! Người khôn nói 100 điều cũng có ít nhất một điều dại dột, còn người dại dột nói 100 điều chắc cũng có ít nhất là 1 điều khôn. Ý kiến phải bình đẳng.

Nhưng trong thực tế thì ở Việt Nam, danh xưng đóng vai trò quan trọng, hay rất quan trọng. Có một lần, khi về làm việc ở một tỉnh thuộc vùng miền Tây, sau bài nói chuyện tôi được một vị cao tuổi ân cần trao cho một danh thiếp với dòng chữ tiếng Anh: “Senior Doctor Tran V. …”. Đây là lần đầu tiên tôi thấy một danh xưng như thế trong đời. Tìm hiểu một hồi tôi mới biết ông là một cựu quan chức cao cấp trong ngành y tế của thành phố (đã nghỉ hưu), nhưng vẫn còn giữ chức vụ gì đó trong một hiệp hội chuyên môn. Tôi nghĩ danh xưng “Senior Doctor” (có lẽ nên dịch là “Bác sĩ cao cấp” hay nôm na hơn là “Bác sĩ đàn anh”). Nhưng tại sao lại cần một danh xưng phân biệt “giai cấp” như thế? Tôi đoán có lẽ vị đồng nghiệp này muốn phân biệt mình với “đám” bác sĩ đàn em chăng?

Một lần khác, khi xem qua chương trình hội nghị tôi thấy ban tổ chức viết tên diễn giả bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Những người có danh xưng tiếng Việt ví dụ như “TS BS Trần Thị …” được dịch sang tiếng Anh là “Dr. Dr. Tran Thi …”. Tôi không khỏi cười thầm trong bụng vì chưa thấy nơi nào trên thế giới có cách viết lạ lùng như thế. Tôi sợ nhất là trong hội nghị có đồng nghiệp ngoại quốc mà họ đọc được cái danh xưng “Dr Dr” này chắc tôi tìm lỗ mà chui xuống không kịp quá! Tôi đề nghị cách viết “đơn giản” hơn là chỉ “Dr” thôi là đủ, nhưng cũng phải vài phút thảo luận người ta mới chịu đề nghị này!

Tôi vẫn còn giữ một danh thiếp khác với dòng chữ: “Dr Specialist II Nguyễn M”. Một anh bạn người Úc tôi có lần tình cờ thấy danh thiếp trên bàn nên thắc mắc hỏi tôi “Specialist II” là gì vậy. Lúc đó tôi cũng chẳng biết, nên đành nói: “I have no idea”, nhưng tôi nói thêm rằng tôi đoán đó là bác sĩ chuyên khoa gì cấp 2 gì đó. Anh bạn đồng nghiệp cười nói mỉa mai (rất dễ ghét) rằng: ước gì tao cũng được cấp II nhỉ?

Không nghi ngờ gì nữa: người Việt rất sính dang xưng. Những gì Dạ Lan viết đều đúng, nhưng … chưa đủ. Còn nhiều chuyện cười ra nước mắt về những nhầm lẫn về danh xưng (honorific), tước hiệu, và nghề nghiệp ở Việt Nam mà tôi từng chứng kiến trong các hội nghị. Nghe những lời giới thiệu dài lòng thòng như “Giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo nhân dân, anh hùng lao động, bác sĩ Nguyễn Văn …” nó khôi hài làm sao!

Tôi vẫn tự hỏi tại sao người ta thích danh xưng trước tên mình? Kinh nghiệm của tôi, khi tiếp xúc với những người hay sử dụng danh xưng cho thấy họ thường dùng danh xưng với những động cơ sau đây:

1. Người dùng danh xưng thường muốn nuôi nấng niềm kiêu hãnh của mình. Danh xưng thường có xu hướng bơm phồng “cái tôi” của một cá nhân, và do đó làm cho cá nhân đó tự đánh giá cao chính mình hơn là thực tế. Bà Jill Biden, vợ phó tổng thống Mĩ Joe Biden, từng phàn nàn rằng bà rất “bệnh” khi nhận email và thư gửi đến gia đình với dòng chữ “Sen. and Mrs Biden” (Thượng nghị sĩ và Bà Biden). Bà muốn được danh xưng là “Sen. and Dr. Biden”, và thế là bà đi học đế lấy bằng tiến sĩ Anh văn. Sau 4 năm nghiên cứu, bà được trao bằng tiến sĩ ở tuổi 55. Câu chuyện bà Biden sính danh là đề tài đàm tiếu của giới báo chí Mĩ hồi đầu năm nay.

2. Người dùng danh xưng như là một hình thức tự quảng cáo. Thật ra, một số người sử dụng danh xưng "Tiến sĩ" hay "Giáo sư" nhắm mục đích tăng giá trị, trọng lượng của ý kiến của họ. Trong thực tế, công chúng cũng có khuynh hướng xem ý kiến của một “Giáo sư tiến sĩ” có giá trị cao hơn ý kiến của một … nông dân. Bởi vì đánh giá cao ý kiến của những vị sư sĩ này, nên ít ai dám chất vấn hay phản bác lại ý kiến của họ. Nhưng không có bất cứ một lí do nào để xem ý kiến của một vị giáo sư hay tiến sĩ có giá trị hơn ý kiến của một nông dân; vấn đề là logic và bằng chứng, vì hai khía cạnh này mới chính là thước đo giá trị của ý kiến.

3. Người dùng danh xưng muốn được người khác kính trọng mình. Đây là biện minh (hay lí lẽ) của những người chức sắc tôn giáo, vì họ cho rằng họ cần những “Thượng tọa”, “Hòa thượng”, “Linh mục”, “Mục sư”, v.v… để tín đồ tỏ lòng kính trọng họ. Thế nhưng tôi lại nghĩ các Phật tử hay tín đồ Công giáo vẫn có thể gọi “thầy” và “cha” mà đâu có tỏ ra thiếu kính trọng gì đâu!

4. Những danh xưng thường gây chú ý một cách không cần thiết. Người sử dụng danh xưng ngầm nói cho người khác rằng họ là người quan trọng và đáng được kính trọng. Mặc dù họ không bao giờ thú nhận ý đồ ngầm này, nhưng nghiên cứu tâm lí cho chúng ta biết động cơ sử dụng danh xưng là để gây chú ý như ca sĩ thích làm trò khác lạ để thu hút khán giả.

5. Người dùng danh xưng có khuynh hướng khao khát quyền lực và trần tục. Một nghiên cứu ở Mexico cho thấy rất nhiều chính trị gia không có văn bằng tiến sĩ nhưng họ vẫn tìm cách mua danh xưng “Dr” bằng cách tranh thủ hay vận động để được một đại học nào đó cấp cho bằng “tiến sĩ danh dự” (honour doctor). Với danh xưng này, họ rất dễ thu hút cảm tình của cử tri và có cơ may đắc cử hơn những người không có danh xưng.

6. Người dùng danh xưng hay có xu hướng quảng bá thái độ “elite”, thái độ kẻ cả, hoặc thái độ toàn trị. Những người này thường tự tô son điểm phấn cho mình bằng cách “tiêm” vào mình những danh xưng thật kêu và thật ấn tượng và bắt đầu nhiễm thói kiêu ngạo xem thiên hạ như dưới tay mình.

Ba tôi lúc sinh tiền mỗi lần nghe ai được giới thiệu như trên tivi với những danh xưng dài lê thê như “Nghệ sĩ nhân dân, tiến sĩ Vũ Đình …” thì ông thở dài nói một mình: lại một ông thiếu tự tin, lòe thiên hạ. Ba tôi tin rằng những người cần đến danh xưng phía trước tên mình là một tín hiệu cho thấy người đó hoặc là bất tài, hoặc là thiếu tự tin, nên phải lấy những danh tước đó ra để tự nâng cao giá trị cho mình. Ngẫm đi nghĩ lại tôi thấy Ba tôi cũng có lí, bởi vì ở Việt Nam những người thích dùng danh xưng là các quan chức trong chính quyền. Là quan chức, làm việc hành chính hay chính trị, họ không phải làm chuyên môn; do đó, có lẽ họ có nhu cầu phải quảng bá mình như là một nhân vật "văn võ song toàn", và để cho … oai.

Nhưng các quan chức Việt Nam có danh xưng “Dr.” coi chừng! Năm ngoái, theo tờ Washington Post, có ít nhất 7 người Mĩ với bằng tiến sĩ từ các trường danh tiếng như Cornell và Caltech bị điều tra về tội “mạo danh” (“title fraud”) vì họ đề danh xưng “Dr.” trên danh thiếp của họ và websites. Ở EU, chỉ có những người có bằng tiến sĩ từ các trường của EU mới có quyền dùng danh xưng “Dr.” Chẳng biết hư thực ra sao, nhưng nghe qua thì có vẻ ... vô lí quá!

Ở Việt Nam, vấn đề danh xưng là vấn đề “merit” (xứng đáng). Trước tình trạng tiến sĩ giấy, tiến sĩ dỏm tràn lan ở Việt Nam như hiện nay, bất cứ ai được giới thiệu là “tiến sĩ”, người dân ngao ngán nghĩ thầm “lại một tiến sĩ giấy”. Trong bối cảnh đa số (70% hay 95%) giáo sư Việt Nam không xứng đáng với chức danh đó trên trường quốc tế, và với hệ thống phong tước danh như hiện nay thì làm sao danh xưng này củng cố lòng tin của người dân. Nhưng ở Việt Nam vẫn có những tiến sĩ, những giáo sư thật (tức là họ có học và có nghiên cứu xứng đáng với danh xưng đó), nhưng khổ nỗi vì đại đa số những tiến sĩ giấy và giáo sư dỏm kia làm cho công chúng chẳng biết ai là giả và ai là thật. Do đó, cách đánh bóng danh xưng như ở Việt Nam gây ra tình trạng vàng thau lẫn lộn.

Cách dùng danh xưng hiện nay lẫn lộn giữa bằng cấp, phẩm hàm danh dự, và chức vụ. Ai cũng biết cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ là những học vị; phó giáo sư và giáo sư là chức danh khoa bảng trong trường đại học; những “nghệ sĩ nhân dân”, “nghệ sĩ ưu tú”, “nhà giáo nhân dân”, “nhà giáo ưu tú” (toàn bắt chước Trung Quốc!) là những tước hiệu danh dự; còn những “giám đốc”, “đại tá”, “bộ trưởng”, v.v… là chức vụ. Ở Việt Nam, tôi thấy trong các hội nghị, những tước hiệu, chức vụ và học vị đều được liệt kê trước tên người diễn giả, chẳng khác gì một bản lí lịch bằng cấp và chức danh! Ở nước ngoài, trong các hội nghị khoa học, người ta chỉ giới thiệu diễn giả bằng một danh xưng duy nhất như “Dr” hay “Professor”, chứ rất rất hiếm ai giới thiệu thêm chức vụ, và chắc chắn chẳng có ai giới thiệu diễn giả dài lê thê như ở Việt Nam (nếu có ai giới thiệu như thế chắc chắn hội trường sẽ cười ầm lên)!

Cách dùng danh xưng như hiện nay chẳng những lẫn lộn thật giả, giữa chức vụ và học vị, mà còn làm trò cười cho đồng nghiệp quốc tế. Trường hợp mà tôi thuật lại ở trên về “Specialist II” (chắc là bác sĩ chuyên khoa II) là một ví dụ điển hình. Bởi vì chỉ có Việt Nam mới có hệ thống bác sĩ chuyên khoa I, chuyên khoa II lạ lùng như thế, nên đồng nghiệp quốc tế chẳng thể nào hiểu được. Thật ra, họ cũng chẳng cần hiểu Specialist I hay Specialist II hay “chuyên khoa II” là cái gì; họ chẳng thèm tốn thì giờ đọc danh thiếp với những chi chít “Dr”, “Professor” làm gì; họ quan tâm đến CV, đến thực tài hơn. Có liệt kê chín mười danh xưng đi nữa mà CV chẳng có gì, thì chỉ làm cho đồng nghiệp ngoại quốc cười khẩy mà thôi. Khi thực tài không tương đồng hay còn quá thấp so với học hàm và học vị, thì những danh xưng đó chỉ là trò hề cho thiên hạ mà thôi. Nên giảm các danh xưng đi, hay tốt nhất là bỏ đi tất cả danh xưng trong các dịp hội họp chẳng liên quan gì đến khoa học và chuyên môn! Đây là lời khuyên chân tình!

NVT

TB: Viết xong entry này, một bạn đọc giới thiệu bài Nghĩ về từ “nhà” rất thú vị trên blog drnikonian. Đọc bài này, tôi mỉm cười hoài. Hóa ra tôi với cái bác drnikonian này lại gặp nhau ở đề tài “nhạy cảm” này.

Có thể đọc thêm những bài sau đây:

Tôi chỉ là Ashkenazy! Hay quốc nạn loạn chức danh, học vị của Đinh Kim Phúc.

Danh xưng của Dạ Lan.

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

Mùa thu Hà Nội

Từ ngày hôm nay, bắt đầu rèn kỹ năng đi ngủ đúng giờ, dậy sớm.
6h20 tỉnh giấc nồng. Ngồi uốn éo 1 lúc cuối cùng cũng bò ra khỏi giường, mở cửa phòng. Một chút se lạnh của mùa thu ập vào, khẽ rùng mình. Sang thu thật rồi.
Nhìn ra lối đi nhỏ dẫn vào phòng, chim sẻ đang chăm chỉ nhặt nhạnh, kêu ríu rít. Hóa ra, thức dậy sớm cũng có cái lợi. Vừa khỏe người lại có cảm giác yên bình đến lạ kỳ.
Một buổi sáng mùng một tháng ngâu (còn gọi là tháng cô hồn) với nhiều ý nghĩa tâm linh, đại lễ Vu Lan báo hiếu nữa, yên bình thế mà chiều mây đen kéo về đầy trời. Dường như trước mỗi cơn bão, hay những chuyển biến dữ dội của thiên nhiên, bầu trời luôn rất đẹp. Cơn bão số 6 đổ bộ vào đất liền, trời xám xịt, rất nhanh chóng, bầu trời trở nên tối mịt. Hết giờ làm, dân văn phòng vội vã phóng về nhà để tránh cơn mưa sắp ập đến. Nhịp sống chưa bao giờ trở nên vội vã như thế.
Thu đã sang, đầu thu với thời tiết không thuận lợi nhưng rồi mọi chuyện sẽ chóng qua. Mùa thu Hà Nội luôn đem lại cảm giác lạ kỳ cho tất cả mọi người. Những ca khúc về mùa thu nhiều vô kể, nhiều mối tình lãng mạn cũng đơm hoa kết trái vào mùa thu. Mùa thu với hương cốm mới, đặc biệt là mùi thơm đặc trưng của hoa sữa. Hoa sữa tình yêu - bài hát tuy không được nhiều người biết đến nhưng nó cũng đủ để lại những xao xuyến trong con tim biết bao người.
"Anh yêu em như hoa sữa không tàn khi mùa thu đã qua thật mau.
 Còn lại đây bông hoa sữa vẫn ngào ngạt chứng minh tình đôi ta.
 Trong tim anh luôn giữ bóng hình của em mãi không hề phai,
và xin dành tặng em bông hoa sữa tình yêu"
Đang ủ mưu và hy vọng, bài hát này sẽ sớm được cất lên :D

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

100 tác phẩm văn xuôi hay nhất mọi thời đại

100 nhà văn từ 54 quốc gia trên thế giới đã cùng bỏ phiếu bầu chọn 100 tác phẩm văn xuôi hay nhất mọi thời đại.

Đây là danh sách 100 cuốn ("The top 100 books of all time" (Norwegian Book Clubs, source: Guardian News). Những cuốn có dấu * ở đầu có nghĩa là trùng với những cuốn chúng ta đã liệt kê tính đến nay:

1. 1984 (George Orwell)

2. Nhà búp bê (Henrik Ibsen)
3. Giáo dục tình cảm (Gustave Flaubert)
4. Absalom, Absalom! (William Faulkner)
5. Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn (Mark Twain)
6. The Aeneid (Virgil)
7. Anna Karenina (Leo Tolstoy)
8. Thương (Toni Morrison)
9. Quảng trường Alexanderplatz Berlin (Alfred Doblin)


*10. Mù (Jose Saramago)
11. Sách của niềm bất an (Fernando Pessoa)
12. Cựu Ước (Do Thái)
13. Anh em nhà Karamazov (Fyodor M Dostoyevsky)
14. Gia đình Buddenbrooks (Thomas Mann)
15. Truyện kể ở Canterbury (Geoffrey Chaucer)
16. Lâu đài (Franz Kafka)
17. Những đứa trẻ của Gebelawi (Naguib Mahfouz)
18. Tuyển tập tiểu thuyết (Jorge Luis Borges)
19. Tuyển tập thơ (Giacomo Leopardi)


*20. Tuyển tập truyện ngắn (Franz Kafka)
21. Truyện toàn tập (Edgar Allan Poe)
22. Tự bạch của Zeno (Italo Svevo)
23. Tội ác và trừng phạt (Fyodor M Dostoyevsky)
24. Những linh hồn chết (Nikolai Gogol)
25. Cái chết của Ivan Ilyich và những truyện khác (Leo Tolstoy)
26. Câu chuyện 10 ngày (Giovanni Boccaccio)
27. The Devil to Pay in the Backlands (Joao Guimaraes Rosa)
28. Nhật ký người điên và những truyện khác (Lỗ Tấn)
29. Thần khúc (Dante Alighieri)


*30. Don Quixote (Miguel de Cervantes Saavedra)
31. Bài luận (Michel de Montaigne)
32. Chuyện cổ Andersen (Hans Christian Andersen, Denmark)
33. Faust (Johann Wolfgang von Goethe)
34. Gargantua and Pantagruel (Francois Rabelais)
35. Sử thi Gilgamesh (Lưỡng Hà)
36. Cuốn sổ vàng (Doris Lessing)
37. Những kỳ vọng lớn lao (Charles Dickens)
38. Gulliver du ký (Jonathan Swift)
39. Gypsy Ballads (Federico Garcia Lorca)


*40. Hamlet (William Shakespeare)
41. Lịch sử (Elsa Morante)
42. Đói (Knut Hamsun)
43. Gã khờ (Fyodor M Dostoyevsky)
44. Trường ca Iliad (Homer)
45. Những người độc lập (Halldor K Laxness)
46. Người vô hình (Ralph Ellison)
47. Jacques anh chàng theo thuyết định mệnh và ông chủ (Denis Diderot)
48. Hành trình đến cuối đêm đen (Louis-Ferdinand Celine)
49. Vua Lear (William Shakespeare)


*50. Lá cỏ (Walt Whitman)
51. Cuộc đời và ý kiến của Tristram Shandy (Laurence Sterne)
52. Lolita (Vladimir Nabokov)
53. Tình yêu thời thổ tả (Gabriel Garcia Marquez)
54. Bà Bovary (Gustave Flaubert)
55. Núi huyền diệu (Thomas Mann)
56. Sử thi Mahabharata (India)
57. Người không cá tính (Robert Musil)
58. Tập thơ Mathnawi (Jalal ad-din Rumi)
59. Bi kịch Hy Lạp cổ Medea (Euripides)


*60. Hồi ức của Hadrian (Marguerite Yourcenar)
61. Hóa thân (Ovid)
62. Middlemarch (George Eliot)
63. Những đứa trẻ lúc nửa đêm (Salman Rushdie)
64. Cá voi trắng (Herman Melville)
65. Ngài Dalloway (Virginia Woolf)
66. Njaals Saga (Iceland)
67. Nostromo (Joseph Conrad): câu chuyện về nước cộng hoà hư cấu Costaguan ở Nam Mỹ
68. Trường ca Odyssey (Homer)
69. Oedipus the King Sophocles (Greece)


*70. Lão Goriot (Honore de Balzac)
71. Ông già và biển cả (Ernest Hemingway)

72. Trăm năm cô đơn (Gabriel Garcia Marquez)
73. The Orchard (Sheikh Musharrif ud-din Sadi)
74. Othello (William Shakespeare)
75. Pedro Paramo (Juan Rulfo)
76. Pippi tất dài (Astrid Lindgren)
77. Tuyển tập thơ (Paul Celan)
78. Lũ người quỷ ám (Fyodor M Dostoyevsky)
79. Kiêu hãnh và định kiến (Jane Austen)


*80. Sử thi Ramayana (Valmiki)
81. Vở kịch Sanskrit “The Recognition of Sakuntala” (Kalidasa)
82. Đỏ và Đen (Stendhal)
83. Đi tìm thời gian đã mất (Marcel Proust)
84. Mùa di trú đến phương Bắc (Tayeb Salih)
85. Truyện ngắn chọn lọc (Anton P Chekhov)
86. Những đứa con trai và những người tình (DH Lawrence)
87. Âm thanh và Cuồng nộ (William Faulkner)
88. Âm thanh của miền núi (Yasunari Kawabata)
89. Người xa lạ (Albert Camus)


*90. Truyện kể Genji (Shikibu Murasaki)
91. Quê hương tan rã (Chinua Achebe)
92. Nghìn lẻ một đêm
93. Cái trống thiếc (Gunter Grass)
94. Ngọn hải đăng (Virginia Woolf)
95. Phiên tòa (Franz Kafka)
96. Bộ ba: Molloy, Malone hấp hối, Không thể gọi tên (Samuel Beckett)
97. Ulysses (James Joyce): Không chỉ là một ghi chép những tình huống ngẫu nhiên trong thành phố Dublin - ngày 16 tháng Sáu năm 1904…
98. Chiến tranh và hòa bình (Leo Tolstoy)
99. Đồi gió hú (Emily Bronte)
100. Alexis Zorba - con người hoan lạc (Nikos Kazantzakis)
December 24, 2011 at 8:30pm

198 SÁCH KINH ĐIỂN CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUỔI THƠ

"Hướng trẻ đọc sách hay là niềm hy vọng đáng tin cậy nhất cho tương lai" (Isaac Rasheris Singer)


Giai đoạn khởi đầu của cuộc đời, tâm hồn con trẻ sáng trong như trang giấy trắng, đây cũng là giai đoạn hình thành nhân cách, bắt đầu học hỏi và khám phá cuộc sống của trẻ.

Những cuốn sách hay, giàu ý nghĩa sẽ là kim chỉ nam định hướng cho sự phát triển trí tuệ và tình cảm của trẻ. Chính vì vậy, việc chọn lựa loại sách kinh điển giàu tính nhân văn cho trẻ đọc là hết sức đúng đắn và cần thiết.

"100 danh tác kinh điển có ảnh hưởng đến tuổi thơ" giới thiệu và tóm lược khái quát nội dung, tư tưởng về những tác phẩm có ảnh hưởng đến bao thế hệ lớp trẻ và được thanh thiếu niên yêu thích từ kho tàng văn học thế giới, với mong muốn bồi đắp những tình cảm cao quý, cũng như giúp trẻ hiểu rõ giá trị của tình thương yêu, lòng bác ái; đồng thời gợi mở cho các em làm thế nào có thể nhận biết, phân biệt phải, trái, thiện, ác để sớm định hình nhân cách cho tương lai.

Hơ hơ, rất tiếc là về mặt toán học chỉ thấy cuốn sách điểm 70 danh tác, chưa đủ 100. Các cháu bé chú ý nhé, phải học toán học cho tốt, không kẻ xấu nó lừa cho :))
1. Alice lạc vào xứ sở thần tiên (Lewis Carroll): Một câu chuyện cổ tích đi cùng sự trưởng thành của từng đứa trẻ
2. Ngụ ngôn Aesop (Hy Lạp cổ): Một bộ truyện ngụ ngôn kinh điển
3. Chuyện về cáo Renart (Pháp): Truyện thơ dài dân gian vĩ đại của Pháp
4. Truyện cổ Grimm (Anh em Grimm người Đức): Lá cờ đầu trên thành trì truyện cổ tích
5. Tập truyện cổ Andersen (Hans Christian Andersen): Tập truyện cổ tích có sức hấp dẫn lâu dài
6. Ghi chép về côn trùng (Jean Henri Fabre): Ca ngợi tinh thần hy sinh vì sự nghiệp nghiên cứu côn trùng
7. Con dế ở quảng trường thời đại (George Selden): Một câu chuyện cổ tích khiến người ta suy ngẫm
8. Những vụ phá án của thám tử Sherlock Holmes (Arthur Conan Doyle): Bộ tiểu thuyết trinh thám nổi tiếng thế giới
9. Tuyển tập truyện của O' Henry: Tác phẩm "cười ra nước mắt"
10. Biến dạng (Franz Kafka): Vạch trần và tố cáo sự thay đổi nhân tính
11. Toto-chan, cô bé bên cửa sổ (Tetsuko Kuroyanagi): Tuổi thơ tìm vầng dương chói lọi
12. Thần thoại Hy Lạp (Hy Lạp): Viên đá quý của văn minh Hy Lạp cổ đại gồm 2 bộ sử thi Iliad và Odyssey
13. Sử thi Homer (Hy Lạp): Viên đá quý vắt ngang nền Văn học ngàn xưa
14. Kinh Thánh: Tác phẩm kinh điển của đạo Cơ Đốc, gồm cả Cựu Ước và Tân Ước
15. Thần khúc (Dante): Bài thơ vĩ đại của thời kỳ Trung Cổ
16. Chuyện về người khổng lồ (Francois Rabelais): Một bộ tiểu thuyết hài hước hoang đường
17. Lái buôn thành Venice (Shakespeare): Hình tượng một kẻ bủn xỉn, tham lam
18. Don Quixote (Miguel Cervantes Saavedra): Một bộ tiểu thuyết hiệp sĩ phản tiểu thuyết hiệp sĩ
19. Kẻ đạo đức giả (Moliere): Vạch trần bộ mặt chân thực của những kẻ giả dối
20. Thiên đường đã mất (John Milton): Cuộc đọ sức của thiên thần và ác quỷ
21. Robinson Crusoe (Daniel Defoe): Một người phiêu lưu không biết thất bại
22. Những cuộc phiêu lưu của Gulliver (Jonathan Swift): Một bộ tiểu thuyết châm biếm xuất sắc
23. Xưng tội (Jean Jacques Rousseau): "Xưng tội" và "tố cáo"
24. Tuyển tập thơ Shelley (Percy Bysshe Shelley): Ca ngợi và tán dương lý tưởng, tự do
25. Nhà thờ đức bà Paris (Victor Hugo): Một vũ đài lớn thể hiện cái đẹp, xấu, thiện, ác
26. Eugenie Grandet (Honore de Balzac): Một sự khắc họa thành công về hình tượng kẻ nô lệ đồng tiền
27. Lão Goriot (Honore de Balzac): Vạch trần tội ác của chủ nghĩa tư bản
28. Quan thanh tra (Nikolai Vasilevich Gogol): Hài kịch châm biếm bọn quan liêu và lừa đảo
29. Oliver Twist (Charles Dickens): Quá trình phấn đấu gian khổ của một cậu bé mồ côi
30. Ba chàng lính ngự lâm (Alexander Dumas cha): Câu truyện truyền kỳ về cây súng
31. Nước Đức - chuyện cổ tích mùa đông (Heinrich Heine): Một tập thơ châm biếm xuất sắc
32. Jane Eyre (Charlotte Bronte): Tiểu thuyết kinh điển của phụ nữ hiện đại
33. David Copperfied (Charles Dickens): Huyền thoại từ một đứa trẻ mồ côi cha đến khi trở thành nhà văn lớn
34. Túp lều bác Tôm (Harriet Beecher Stowe): Câu chuyện đẫm máu và nước mắt của một nô lệ da đen
35. Cá voi trắng (Herman Melville): Cuộc vật lộn trên biển đầy xúc động
36. Tập thơ Lá cỏ (Walt Whitman): Tác phẩm thi ca đầy tinh thần dân chủ
37. Những người khốn khổ (Victor Hugo): Tác phẩm tiêu biểu của dòng văn học chủ nghĩa lãng mạn Pháp
38. Chiến tranh và Hòa bình (Lev Tolstoi): Một tác phẩm văn học đồ sộ
39. Tuyển tập thơ Tagore (Tagore): Bài hát của một nhà thơ phương Đông vĩ đại
40. Hai vạn dặm dưới đáy biển (Jules Verne): Cuộc phiêu lưu thần kỳ dưới đáy biển
41. 80 ngày vòng quanh thế giới (Jules Verne): Tác phẩm xuất sắc trong thể loại tiểu thuyết khoa học giả tưởng
42. Cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer (Mark Twain): Một quyển tiểu thuyết dành cho thiếu nhi đầy hương vị cuộc sống
43. Heidi (Johanna Spyri): Thể hiện thế giới trẻ thơ thuần khiết đẹp đẽ.
44. Tuyển tập truyện ngắn và vừa của Maupassant (Guy de Maupassant): Những mẩu chuyện của chủ nghĩa hiện thực
45. Đảo dấu vàng (Robert Louis Stevenson): Câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm đầy cảm động
46. Chú bé người gỗ Pinocchio (Carlo Collodi): Câu chuyện cổ tích kinh điển nổi tiếng
47. Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn (Mark Twain): Câu chuyện thiếu nhi đầy nét hài hước thú vị
48. Những tấm lòng cao cả (Edemondo De Amicis): Câu chuyện tình yêu cảm động lòng người
49. Tiểu thuyết Chekhov (Anton Pavlovich Chekhov): Tiểu thuyết châm biếm hóm hỉnh đặc sắc
50. Phù thủy xứ OZ (Layman Frank Baum): Một câu chuyện cổ tích thần kỳ hấp dẫn
51. Chuyện đời tôi (Helen Keller): Quyển tự truyện của một phụ nữ tàn tật nhưng có ý chí kiên cường
52. Chuyện danh nhân (nhà văn Romain Rolland): Truyện ký anh hùng về Beethoven, Michelangelo, Lev Tolstoi
53. Jean Christophe (Romain Rolland): Tiểu thuyết vĩ đại nhất thế kỷ XX
54. Tôi là mèo (Natsume Soseki): Thế gian trong mắt một con mèo
55. Tình yêu cuộc sống (Jack London): Ngợi ca cuộc sống
56. Người mẹ (Maxim Gorki): Tác phẩm nền tảng của dòng văn học chủ nghĩa xã hội
57. Những cuộc phiêu lưu kỳ thú của cậu bé Nils (Selma Lagerlof): Truyện cổ tích phiêu lưu đầy sự thần kỳ và ảo tưởng
58. Khu vườn bí mật (Frances Hodgson Burnett): "Khu vườn thần kỳ" khiến cuộc sống trở nên đẹp đẽ
59. Thời thơ ấu (Maxim Gorki): Câu chuyện về thời thơ ấu vất vả
60. Nhớ lại năm tháng đã qua (Marcel Proust): Người đi tiên phong của tiểu thuyết dòng ý thức
61. Anne ở Green Gables (Lucy Maud Montgomery): Một bộ tiểu thuyết về quá trình trưởng thành của cô bé Anne đầy lôi cuốn
62. Những cuộc phiêu lưu của anh lính Schwejk (Jaroslaw Hasek): Câu chuyện về một "anh lính" vừa thông minh vừa ngốc nghếch
63. Sông Đông êm đềm (Mikail Aleksandrovich Sholokhov):  Tác phẩm mang tính sử thi xuất sắc
----> Loại bỏ --- Thép đã tôi thế đấy (Nikolai Ostrovsky): Bài ca phấn đấu của một cuộc đời tươi đẹp
64. Hoàng tử bé (Antoine de Saint Exupery): Tiếng gọi tình yêu của một tâm hồn cô độc
65. Bắt trẻ đồng xanh (Jerome David Salinger): Tác phẩm kinh điển ảnh hưởng đến nhiều lớp thanh niên Mỹ
66. Ông già và biển cả (Ernest Hemingway): Bài ca anh hùng bi tráng
67. Mạng nhện của Charlotte (Elwyn Brooks White): Câu chuyện cổ tích cảm động
68. Không gia đình (Hector Malot): Quá trình trưởng thành gian khổ của một cậu bé mồ côi
69. Quân luật thứ 22 (Joseph Heller): Tác phẩm kinh điển hài hước châm biếm
-----------------------
(Nhân dân FB bổ sung thêm)

70. Thế giới của Sophie (Jostein Gaarder)
71. Con cái chúng ta giỏi thật (Azit Nexin)
72. Giamilia, Truyện núi đồi và thảo nguyên (Chingniz Aitmatov)
73. Cánh buồm đỏ thắm (Aleksandr Grin)
74. Anna Karenina (Lev Nikolayevich Tolstoy)
75. Trăm năm cô đơn (Gabriel Garcia Marquez)
76. Con đường đau khổ (Aleksey Nikolayevich Tolstoy)
77. Tội ác và trừng phạt (Fyodor Mikhailovich Dostoevsky)
78. Tu viện thành Parma (Stendhal)
79. Trên sa mạc và trong rừng thẳm (Henryk Sienkiewicz)
80. Dế mèn phiêu lưu ký (Tô Hoài)
81. Pippi tất dài (Astrid Lindgren)
82. Nghìn lẻ một đêm (Cổ tích Ả rập)
83. Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi)
84. Bông hồng vàng và Bình Minh Mưa (Pauxtôpxki)
85. Con bim trắng tai đen (G. Troieponxki)
86. Nhà giả kim (Paulo Coelho): Đây là một câu chuyện thúc giục độc giả theo đuổi giấc mơ của mình qua một chàng trai trẻ khao khát cháy bỏng đi chu du để đạt mục đích là tìm kho báu của mình...
87. Nhóc Nicolas (René Goscinny)
88. Harry Potter (J. K. Rowling)
89. Chúa tể của những chiếc nhẫn (J. R. R. Tolkien)
90. Biên niên sử Narnia (C.S Lewis)
91. Mẹ vắng nhà (Nguyễn Thi)
92. Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi)
93. Tây Du Ký (Ngô Thừa Ân)
94. Anh em nhà Karamazov (Dostoyevsky)
95. Bức chân dung (Nikolai Vasilievich Gogol )
96. Một ngày dài hơn thế kỷ (Chinghiz Aitmatov)
97. Đoạn đầu đài (Chinghiz Aitmatov)
98. Bố già (Mario Puzo)
99. Bác sĩ Zhivago (Boris Leonidovich Pasternak)
100. Tiếng gọi nơi hoang dã (Jack London)
101. Đồi gió hú (Emily Brontë)
102. Hội chợ phù hoa (William Makepeace Thackeray)
103. Ruồi trâu (Ethel Lilian Voynich)
104. Đèn không hắt bóng (Watanabe Dzunichi)
105. Papillon người tù khổ sai (Henry Charriere)
106. Thằng gù nhà thờ Đức Bà (Victor Hugo)
107. Bá tước Moongto Crixto (Alexandre Dumas cha)
108. Tiếng chim hót trong bụi mận gai (Colleen McCulough)
109. Cuốn theo chiều gió (Margaret Mitchell)
110. Con hủi (Helena Mniszek)
111. AQ chính truyện (Lỗ Tấn)
112. Cuộc đời của Pi (Yann Martel): về cuộc hành trình của cậu bé Pi cùng một lúc say mê tôn giáo cả đạo Hindu, đạo Hồi và đạo Thiên Chúa.
113. Nam tước trên cây (Italo Calvino): câu chuyện về cậu bé Cosimo Mưa Giông xứ Rondeau, khi mới 12 tuổi đã từ chối món ốc sên do bà chị u sầu Battista chuẩn bị
114. Chúa ruồi (William Golding): về bản năng của con người, về thiện - ác, liệu có phải nhân chi sơ tính bản thiện?
115. Triệu phú khu ổ chuột (Vikas Swarup): khơi dậy trắc ẩn trong mỗi con người, trong cuộc sống khốn cùng nơi ngõ ngách của những khu ổ chuột tồi tàn
116. Sách của bạn tôi (Anatole France): tự truyện về chú bé Pierre với những mối quan hệ tuổi thơ, những kỷ niệm với bạn đồng trang lứa, với giáo viên và trường lớp
117. Chuyện con mèo dạy hải âu bay (Luis Sepúlveda): câu chuyện đầy cuốn hút về lòng tận tâm và tầm quan trọng của việc giữ lời hứa
118. Cédric (Laudec & Cauvin): Những mẩu truyện xoay quanh cuộc sống thường nhật đầy ắp những điều khôi hài, thú vị, những sự cố nho nhỏ và cả những triết lý riêng của cậu bé Cédric.
119. Nàng công chúa nhỏ (Frances Hodgson Burnett): Câu chuyện hấp dẫn về bé Sara Crewe là một truyện cổ tích hiện đại về lòng nhân từ và đức tin vào những điều tốt đẹp,
120. William (Richmal Crompton): Bộ truyện  vô cùng hấp dẫn về cậu bé William nghịch ngợm
121. Manolito (Elvira Lindon): Bộ truyện thú vị, quyến rũ với sự hài hước con trẻ về cậu nhóc Manolito. Cậu nhóc yêu cuộc sống của mình và sẵn sàng kể cho mọi người nghe mọi điều về nó...
122. Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ (Nguyễn Nhật Ánh): Nhà văn mời người đọc lên chuyến tàu quay ngược trở lại thăm tuổi thơ và tình bạn dễ thương của 4 bạn nhỏ. Những trò chơi dễ thương thời bé, tính cách thật thà, thẳng thắn một cách thông minh và dại dột, những ước mơ tự do trong lòng…
123. Chuyện ngày xưa: một trăm cổ tích (Tô Hoài): khối chuyện mang diện mạo và tâm hồn con người, trải ngàn vạn năm còn ở lại với hôm nay, chia thành 3 phần: 58 truyện về các sự tích, loài vật; 22 truyện về các nhân vật, truyền thuyết; và 21 truyện đặc sắc của các dân tộc thiểu số.
124. Candide - Chàng ngây thơ (Voltaire): tác phẩm văn chương giàu tính triết học nhất mà Voltaire từng viết,  nhân vật chính là một chàng trai ngây thơ đến thuần khiết.
125. Momo (Michael Ende): Câu chuyện kỳ lạ về những kẻ ăn cắp thời gian và một cô bé giành lại được cho con người thời gian đã mất
126. Anne tóc đỏ dưới chái nhà xanh (L.M. Montgomery): Truyện về cô bé Anne Shirley quyến rũ và vui nhộn truyền cảm hứng về tình yêu cuộc sống mãnh liệt cho những người thân yêu sống quanh cô.
127. Căn phòng riêng (Virginia Woolf): Trong nỗ lực tìm kiếm nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề bình đẳng nam nữ trên mọi lĩnh vực, tác giả đã nêu một luận điểm nổi tiếng, bằng cách nghĩ đẫm chất hiện thực: “Nếu viết văn, người đàn bà phải có tiền và một căn phòng riêng”. Khi đó họ có thể nhìn cuộc sống bằng đôi mắt của chính họ, nhìn cuộc sống như là cuộc sống và nhìn sự vật như là sự vật...
128. Ngài Dalloway (Virginia Woolf)
129. Ngọn hải đăng (Virginia Woolf)
130. Suối nguồn (Ayn Rand)
131. Nghệ nhân và Margarita (Mikhail Bulgacov)
132. Báu vật của đời (Mạc Ngôn)
133. Cao lương đỏ (Mạc Ngôn)
134. Đàn hương hình (Mạc Ngôn)
135. Cây tỏi nổi giận (Mạc Ngôn)
136. Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán)
137. Bà Bovary (Gustave Flaubert)
138. 1984 (George Orwell)
139. Trại súc vật (George Orwell)
140. Absalom, Absalom! (William Faulkner)
141. Thương – Beloved (Toni Morrison)
142. Truyện kể ở Canterbury (Geoffrey Chaucer)
143. Lâu đài (Franz Kafka)
144. Phiên tòa (Franz Kafka)
145. Tuyển tập truyện ngắn (Franz Kafka)
146. Kafka bên bờ biển (Haruki Murakami)
147. Rừng Nauy (Haruki Murakami)
148. Truyện toàn tập (Edgar Allan Poe)
149. Tự bạch của Zeno (Italo Svevo)
150. Những linh hồn chết (Nikolai Gogol)
151. Cái chết của Ivan Ilyich và những truyện khác (Leo Tolstoy)
152. Câu chuyện 10 ngày (Giovanni Boccaccio)
153. Nhật ký người điên và những truyện khác (Lỗ Tấn)
154. Faust (Johann Wolfgang von Goethe)
155. Những kỳ vọng lớn lao (Charles Dickens)
156. Khúc nhạc Noel (Charles Dickens)
157. Hamlet (William Shakespeare)
158. Vua Lear (William Shakespeare)
159. Othello (William Shakespeare)
160. Gã khờ (Fyodor M Dostoyevsky)
161. Lũ người quỷ ám (Fyodor M Dostoyevsky)
162. Kiêu hãnh và định kiến (Jane Austen)
163. Thuyết phục (Jane Austen)
164. Emma (Jane Austen)
165. Lolita (Vladimir Nabokov)
166. Tình yêu thời thổ tả (Gabriel Garcia Marquez)
167. Đi tìm thời gian đã mất (Marcel Proust)
168. Đỏ và Đen (Stendhal)
169. Gatsby vĩ đại (F Scott Fitzgerald)
170. Bá tước Monte Cristo (Alexandre Dumas)
171. Sử thi Mahabharata (Ấn Độ)
172. Mùa di trú đến phương Bắc (Tayeb Salih)
173. Những đứa con trai và những người tình (DH Lawrence)
174. Âm thanh và Cuồng nộ (William Faulkner)
175. Cái trống thiếc (Gunter Grass)
176. Alexis Zorba - con người hoan lạc (Nikos Kazantzakis)
177. Giết con chim nhại (Harper Lee)
178. Hồi ức của một Geisha (Arthur Golden)
179. Gấu Pooh xinh xắn (AA Milne)
180. Gió qua rặng liễu (Kenneth Grahame)
181. Xứ cát (Frank Herbert)
182. Ngựa ô yêu dấu (Anna Sewell)
183. Matilda cô bé nghịch ngợm (Roald Dahl)
184. Nhật ký tiểu thư Jones (Helen Fielding)
185. Ulysses (James Joyce)
186. Chúa trời của những chuyện vụn vặt (Arundhati Roy)
187. Con gái yêu (Jacqueline Wilson)
188. Nhật ký công chúa (Meg Cabot)
189. Casanova ở Bolzano (Márai Sándor): câu chuyện về một anh chàng phiêu lưu và phong tình
190. Thủy Hử (Thi Nại Am)
191. Hồng Lâu Mộng (Tào Tuyết Cần)
192. Tam Quốc Diễn Nghĩa (La Quán Trung)
193. Cô gái Đồ Long  (Kim Dung)
194. Anh hùng xạ điêu (Kim Dung)
195. Thần điêu đại hiệp (Kim Dung)
196. Tiếu ngạo giang hồ (Kim Dung)
197. Ai van hô (Ivanhoe) (Walter Scott)
198. Peter Pan (J. M Barrie): về một cậu bé biết bay và từ chối không chịu lớn lên.

Cảm ơn nhân dân FB :))