Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

10 bước để trở thành giai đểu

Đây là phiên bản Việt của “How to be a Bad boy in 10 steps @WikiHow”, em dịch ra để các cụ tham khảo và….bắt chước để tránh trường hợp ngửa mặt lên than: Tại sao em luôn là người…..đến sau hi hi
(nguồn: http://www.wikihow.com/Be-a-Bad-Boy)

Toàn bộ anh em đàn ông chúng ta đều nghe đến cụm từ Bad Boy, tạm dịch là “sát thủ tình trường”. Thằng ku Sát thủ tình trường hay “giai đểu” có vẻ đã vợt hầu hết các loại gái xinh, gái ngoan và đa số giai ngoan, giai tử tế đều đi đến một chấp nhận là “đàn ông tử tế thường phải…đi đổ vỏ” cho tụi này. Nhưng trên thực tế, sự mô tả này tạo nên một suy nghĩ rất sai về thế nào là Badboy. Thực tế là lý do mà các anh em thuộc loại “giai ngoan” thất bại trong việc chinh phục phụ nữ không phải bởi sự tử tế của họ, mà bởi vì tất cả cái gì mà các cụ “tử tế” có chỉ là là sự an toàn và sự bình an. Rất nhiều các cụ thuộc phân loại “giai tốt” thường tỏ ra mình rất nhạy cảm, mong manh, dễ tổn thương và đồng cảm với mọi người. Họ đối xử với mọi người rất tốt, thậm chí với những người không tử tế với họ và bất nhất trong mối quan hệ giữa họ và người ấy. Họ cần mọi người thừa nhận rằng họ giống, họ theo phe của tất cả mọi người khác, và họ cố gắng đạt các mục đích trong cuộc sống bằng cách cố làm sao sống cho vừa lòng tất cả mọi người. Những giai ngoan này sẽ đối xử với những gái xinh một cách nhẹ nhàng, tình cảm nhưng họ thiếu đi một sự mạnh mẽ trong cá tính và thể hiện ra cho đối phương nhân diện họ là ai. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ con đường trở thành badboy, con đường trở thành sát thủ tình trường, và con đường trở thành bọn mà các cụ vẫn quen mồm gọi: BỌN ĐỂU

Bước 1: Hãy sống như một thằng đàn ông đích thực


Để trở thành “Giai đểu” trước hết các cụ phải….sống như một thằng đàn ông đã Các cụ có khoảng thời gian của các cụ, các cụ có các giấc mơ của chính mình, những kế hoạch cho chính mình và quan trọng nhất, khi đã định ra kế hoạch, các cụ hãy tuân thủ theo kế hoạch mà các cụ đã đặt ra. Nếu các cụ đóe thích một cái gì đó, đóe thích một ai đó thì cứ thản nhiên thể hiện và thản nhiên nói ra là: “Em đóe thích! Có sao không?”. Các cụ không nhất thiết phải thay đổi bản thân mình chỉ vì các cụ sợ rằng phụ nữ họ không thích vậy. Có một thực tế là hầu hết đàn ông đều miệt mài chứng tỏ và cưa cẩm các gái xinh, gái ngoan mà quên mẹ đi bản thân họ. Lý do đóe nào hấp dẫn một gái xinh, gái ngoan về một thằng đàn ông mà chả có tí chính kiến, ý kiến và một điểm gì nổi bật? Các cụ phải tự tạo và duy trì cho mình một con người, một nhân dạng với cá tính mạnh mẽ. Hãy chấp nhận các điểm yếu, những điểm chưa hoàn hảo của mình để tập trung hoàn thiện mình tốt hơn. Làm đóe gì có ai hoàn hảo, và sẽ có vài thằng, vài con nó sẽ đóe thích cụ, đơn giản là nó đóe thích vậy thôi. Đây là một bước quan trọng trong vấn đề nhận thức, và một khi các cụ có thể kiểm soát và vượt lên việc này. Gái nó sẽ bu đến các cụ một cách rất tự nhiên

Bước 2: Đặt bản thân và lợi ích cá nhân vào trung tâm


Để đặt mình vào trung tâm của thế giới của chính mình, các cụ phải đi đứng có mục đích, nói năng cũng phải có chủ đích đoàng hoàng, chậm dãi từ tốn để thực hiện cả bước đi trong đời. Đóe dễ đâu, vì dễ thì anh em nó thành mẹ giai đểu hết rồi, dưng điều này rất có ích trong suốt cả cuộc đời của các cụ. Chính các cụ phải đặt bản thân các cụ, cuộc đời các cụ và thời gian của các cụ là ưu tiên số một trên cuộc đời này. Bọn giai tử tế trên đời này thường coi nhẹ bản thân mình và thường đặt người khác cao hơn cả bản thân họ. Bọn họ thường có thói quen lượn lờ loanh quanh và làm vui lòng người này, hài lòng người kia, và đảm bảo rằng nguời khác vui vẻ; kể cả việc này làm chính bản thân họ tổn thương và đau đớn (kiểu dành hàng giờ ngồi khuyên con người yêu cũ đừng nên cãi nhau với thằng người yêu mới). Họ thường để cho một đứa con gái xinh xinh tin tin hoặc một thằng bạn bỏ mẹ nào đó hành hạ và đảo lộn cuộc sống của chính mình và tự gặm nhấm sự thất bại, thất vọng khi bị phản bội. Bọn giai tử tế thường luôn đặt mong muốn của người khác cao hơn, lớn hơn rất nhiều so với hạnh phúc của cá nhân họ. Lắm thằng rảnh đến mức còn cảm thấy có lỗi nếu bọn nó thấy ân hận và có lỗi khi đặt lợi ích mình lên trước người khác. Họ thể hiện ra là họ là những người rất tử tế và sống trong một hoài bão rằng rồi “ở hiền gặp lành” và rằng người khác sẽ nhận ra họ tốt và tử tế biết bao. nhưng thực tế họ chỉ bị người khác lợi dụng và cuộc đời xô đẩy. Tử tế với bản thân mình thôi, vì các cụ, xứng đáng được hưởng điều đó!

Bước 3: Đóe cần thiết phải tỏ ra quá quan tâm

Một trong những sai lầm lớn nhất của tất cả các loại giai tử tế trên thế giới này là họ quan tâm một cách thái quá. Họ quá rách việc trong việc quan tâm đến những việc như người khác nghĩ gì, không hiểu bọn con gái nó có thích họ hay không, không biết họ có làm cho người khác buồn không, hay đơn giản là ngồi ngẫm nghĩ xem mình có làm gì không phải. Quan tâm là tốt. nhưng nó chính là một loại virus nếu các cụ quan tâm trong một thời gian quá dài. Ở đây em khuyên các cụ là kệ mẹ nó, và đừng cố gắng bón thúc bằng mồm, đừng cố gắng sửa chữa những cái gì vượt quá tầm kiểm soát của các cụ. Kệ mẹ mọi người. Kệ mẹ bọn nó nghĩ gì và bọn nó muốn gì. Kệ mẹ cho bọn nó gây rối hoặc phạm sai lầm và tự đứng lên từ những sai lầm đấy (ví dụ con người yêu bảo, “anh không sang bây giờ là em sẽ nhịn ăn tối nay”, hay “nếu anh không trả lời điện thoại, em sẽ ra khỏi đời anh vĩnh viễn”. Kệ mẹ bọn nó. Cụ cứ ngồi nhậu tiếp, hoặc đi ngủ mẹ đi. Mai tính tiếp). Đừng có cố ôm đồm mọi việc về mình. Hãy học cách coi nhẹ mọi việc, bình tĩnh trước mọi thứ và giữ trên môi nụ cười. Em nói trước, cái này đóe dễ, giống như bước 2 trên, nhưng cái này là một “tiêu chuẩn” hết sức quan trọng để trở thành Giai đểu. Thực tế là gái xinh, gái đẹp, gái teen bọn chúng yêu lũ đàn ông, con trai giữ được bình tĩnh và thái độ bàng quan trước mọi việc. Đơn giản, hãy dành thời gian của cụ vào những việc cụ thực sự cần quan tâm trong cuộc đời, còn các việc khác, vứt mẹ nó đi!

Bước 4: Đóe phải xin xỏ hoặc chờ bật đèn xanh
Đa phần các chú giai tử tế, giai ngoan đều chờ đợi những tín hiệu và cái gật đầu để làm một việc gì đó. Chính điều này khiến họ trở nên bị động và rụt rè. Quan điểm của em là đóe bao giờ cần phải xin “giấy phép” để làm một điều gì đó (đặc biệt là với phụ nữ) và thản nhiên chờ đợi sự phán kháng để ứng biến một cách tự nhiên. Ngừng ngay việc ngó quanh để tìm sự đồng thuận hay những ánh mắt khuyến khích hay phản đối để xác định mình làm đúng hay làm sai. Nếu cụ thích hôn, hôn mẹ đi, đừng mất thời gian hỏi: “Em ơi, mình hôn nhau nhá”. Cụ thích cấu mông gấu hoặc “sì tơ” gấu, múc mẹ luôn, khỏi cần phải làm mặt cầu cạnh và hỏi: “Này em, anh có được cấu mông em?”. Cụ đừng báo giờ phải lo lắng về phản ứng và sự đồng thuận của mọi người về cái mà nghĩ cụ cho rằng như thế là phải. Cụ cứ thản nhiên áp dụng nguyên tắc sau: “Cụ sẽ nhận ra rằng cụ luôn luôn có quyền làm bất cứ cái gì cụ muốn!”
Phải giữ được trong tâm thế mình là mình MUỐN gì chứ không bao giờ đặt mình trong hoàn cảnh phải xin ai cho phép mình làm cái thứ mà mình MUỐN

Bước 5: Một thủ lĩnh thực thụ

Đã là đàn ông, thì các cụ phải luôn luôn ở tư thế lãnh đạo, tư thế của một con đầu đàn. Đừng bao giờ chờ đợi ai nói xem cụ nên đi đâu hay nên làm cái gì. Hãy đứng lên và nhận trách nhiệm lãnh đạo. Để làm một thủ lĩnh, một cách rất tự nhiên, cụ phải bỏ qua việc việc lo lắng xem mọi người ra sao, và tập trung và quan tâm vào việc cụ đang đi đâu, đang làm cái việc gì mà cụ cho rằng phải làm. Đây không phải là ích kỷ, mà thực sự đây là cách mà cụ đang lo lắng và tập trung làm việc cho bản thân cuộc đời các cụ theo cách của chính mình.
Hãy trở thành thủ lĩnh trong cuộc đời các cụ trong mọi tình huống. Nếu cụ thấy cụ muốn nói chuyện với một em bé xinh xinh trước mặt, hay muốn nhận trách nhiệm làm một việc gì đó, thì cứ đứng lên và tiến tới chỗ đó. Hãy làm cái gì mà cụ cảm thấy đúng cho cuộc đời cụ, vì thực tế, sẽ đóe ai làm điều này cho cụ hay thay cụ cả. Can đảm lên!

Bước 6: Quyết đoán


Luôn luôn chắc chắn rằng cụ muốn gì, và làm thế nào để đạt được nó. Xác định được bản thân cụ muốn gì trong mọi tình huống, bất kể với gái hay việc gì trong cuộc đời nói chung. Khi đã xác định được mục tiêu, hãy theo đuổi nó đến cùng. Một cụ rón rén hay có bộ dạng không chắc chắn trông yếu đuối và nhục bỏ mẹ. Dám có ý kiến và sẵn sàng bảo vệ quan điểm của mình trong mọi vấn đề, mọi lúc, mọi nơi bất kể tại nhà hàng cụ đang ăn hay chỗ đi chơi tăng tiếp theo. Sẵn sàng theo đuổi và hành động theo cách các cụ muôn; điều này sẽ giải phóng cụ khỏi nỗi sợ hãi và lo lắng khi cụ quyết định theo đuổi một mục tiêu mà cụ thực sự muốn. Mình chỉ được sống một lần trong cuộc đời này và hãy đảm bảo rằng cụ sẽ đánh vô lăng để theo đuổi con đường sẽ làm cụ hạnh phúc.
Hãy nhớ rằng, nếu cụ không biết rằng cụ muốn cái gì thì làm sao cụ biết được bao giờ cụ có nó?????

Bước 7: Hãy chân thật với người khác đặc biệt với chính bản thân mình

Một điều đặc biệt đó là giai đểu thường rất tốt trong việc là một người trung thực và nhận trách nhiệm trong việc gì đó. Và điều này thường đối nghịch hoàn toàn với những gì giai ngoan thường làm. Nếu cụ giai đểu thích một bé gái nào đó, thường các cụ ý thể hiện mẹ luôn cho em gái đó là “anh kết em lòi mắt” trong khi đấy các cụ “giai tử tế” thường lại có xu hướng dấu đi cảm xúc thật của mình. Các cụ giai ngoan thường cố gắng trở thành người bạn tốt với những người con gái mà anh ta thích và không bao giờ thể hiện rằng họ thích cô gái đó, và cuối cùng, hành vi ngu xuấn này là đưa cụ này vào nhóm những người bạn bình thường của em gái kia. Nói thẳng mẹ cho nó vuông, đó là chị em phụ nữ thường nhạy cảm gấp mười mấy hai chục lần, thậm chí hàng trăm lần các cụ trong việc xác định thằng nào thích mình và khi nào chúng nó thích mình. Điều này chả ý nghĩa mẹ gì đối với giai đểu vì họ chả có vấn đề gì khi nói với các em “anh thích em” còn giai ngoan thì lại cố che dấu nó, thậm chí còn tỏ ra rằng: “tớ không quan tâm lắm”. Do vậy một cách đơn giản, để trở thành giai đểu, các cụ phải sống thật và chân thành với phụ nữ, vì thực tế là họ đã đi guốc trong bụng cụ là cụ muốn cái gì rồi.
Cụ giai đểu có thể thản nhiên nhìn thẳng vào ngực của chị em phụ nữ còn trong khi đó các giai ngoan thì chỉ dám len lén nhòm mặc dù thích bỏ mẹ. Phụ nữ thường thích thú khi các cụ thể hiện cho cô ấy một cách vừa phải sở thích và thái độ của mình hơn là vờ vờ vệt vệt giấu đi cảm xúc thật của các cụ mặc dù vẫn dí mắt liếc theo cặp mông của họ khi họ vừa quay mặt đi.

Phần thứ hai của bước này là chân thật với bản thân mình, chân thật với con người của chính bản thân các cụ. Tất cả chúng ta đều có trong đầu mình một câu truyện để giải thích tôi là ai, tại sao tôi lại làm chuyện đó, tại sao đúng, tại sao sai và muôn và lý do cho mọi việc. Hãy học cách bỏ qua những câu truyện, những lý do bạn có trong đầu để lừa dối bản thân và che đi sự thật. Chả có gì và chả có ai hoàn hảo. Hãy cứ chân thật với cuộc đời, với mình!

Bước 8: Trưởng thành một cách độc lập

Hãy học cách tự hạnh phúc với chính bản thân mình và những thứ mình có. Các cụ sẽ nhanh chóng nhận ra rằng, khi các cụ càng ít phụ thuộc vào người khác, thì càng nhiều người sẽ cần và sẽ tìm đến các cụ. Hãy luôn nhớ tạo ra những thú vui và những trò giải trí cho bản thân mình, tìm cho mình một niềm đam mê nào đó và tìm cho mình cho mình những thú vui mà các cụ sẽ muốn dành thời gian cho nó.
Cuộc đời chỉ vui vẻ và thú vị khi chính các cụ muốn có và tạo ra được một cuộc đời như vậy. Đừng bao giờ vì buồn mà đi tới một mối quan hệ, gắn bó với một người phụ nữ hay phải lệ thuộc vào một thú vui duy nhất nào đó. Đừng tìm kiếm những thứ giải khuây, đặc biệt là phụ nữ, để làm cho bản thân cụ hạnh phúc, vì thực sự cụ không cần nó. Đàn ông trên khắp thế giới này cứ mãi miết đi tìm hạnh phúc ở khắp mọi nơi khác mà họ quên đi tìm hạnh phúc từ bản thân mình. Khi các cụ học được cách tìm nguồn vui từ mình, lúc đó cụ sẽ có một hấp lực hút tất cả mọi thứ về mình và lúc đó, các cụ sẽ trở thành những người thực sự độc lập. Không có gì có thể hạ gục được cụ.
Giống như đừng biến OS hay OX là thú vui duy nhất của cụ để cụ sợ vãi cứt ra khi có thằng nào dọa ban nick đừng biến con người yêu của mình là một người bạn duy nhất cụ tâm sự vì khi nó đi rồi, cụ sẽ hoảng loạn không biết bấu víu vào đâu. Hãy thản nhiên sống, thản nhiên cười và coi nhẹ mọi thứ. Hãy độc lập và hãy tự tạo cho mình những thứ vui

Bước 9: Biết tự trọng và nâng cao giá trị bản thân

Giai đểu thường bị coi là….đểu vì những cụ này thường biết rõ giá trị bản thân mình, quan tâm đến giá trị bản thân mình và biết tự mãn với giá trị bản thân một cách cân bằng và đáng tôn trọng. Điều này càng khiến bọn “giai ngoan” uất ức vì càng so mình với giai đểu càng thấy mình….kém. Một cụ được cho là giai đểu là người nhận ra hai thực tế rất quan trọng nhất đối với đời mình. Đó là, cụ biết rằng cụ ngon hơn bất cứ thằng nào khác, do vậy, quan điểm của cụ hiển nhiên sẽ đúng đắn hơn quan điểm khác và đóe có ai trên đời này ngon hơn, cao hơn cụ ả. Tất cả đưa đến việc cụ có tự trọng, và tôn trọng bản thân mình. Trước khi tìm kiếm được sự tôn trọng của người khác, đặc biệt là phụ nữ, lên mình thì trước hết cụ phải có tự trọng và tự tôn trọng bản thân mình đầu tiên.
Làm thế nào để cụ có được tự trọng?
 Trước hết, cụ phải tạo được ranh giới tiêu chuẩn nào cụ chấp nhận, tiêu chuẩn nào cụ không chấp nhận từ người khác và hãy dùng nó như một kim chỉ nam cho mình. Điều quan trọng nhất của phần xây dựng lòng tự trọng cho mình đó là đừng đặt mình ngang hàng với bất kể loại người nào thiếu tôn trọng cụ, gia đình của cụ và bạn bè của cụ
Vấn đề với các “giai ngoan” là họ quá tử tế với tất cả mọi người, kể cả những người không tử tế ngược lại với họ. Chúng ta được dạy rằng phải đưa má trái ra khi bị tát vào má phải nhưng trên thực tế, trong nhiều trường hợp, cách làm này chỉ khiến sự việc tồi tệ đị. Khi các cụ đối xử với những người coi cụ như cục cứt một cách tử tế; điều này chính là phần thưởng tưởng thưởng cho những hành vi tồi của họ. Hãy tôn trọng và tử tế với những người tốt bụng và đáng yêu. Tử tế với người khác không hề có nghĩa sẽ làm nguời ta quý mến cụ. Trên thế giới này thiếu đóe gì bọn khốn nạn, nhưng cũng có rất nhiều người tốt ở xung quanh cụ ở trên thế giới này. Hãy nhìn xung quanh và hãy tử tế, tôn trọng những người mà cụ cho rằng họ xứng đáng với điều đó


Bước 10: Khỏe mạnh về thể chất, vững vàng về tinh thần

Là một người đàn ông, cụ phải có một thể trạng vững mạnh cho gia đình, bạn bè, người thân và đặc biệt là phụ nữ để họ có thể yên tâm dựa vào. Hãy sống để gạt bỏ những lời than vãn, kêu ca và rên rỉ đi. Các cụ đi ra đường và luôn nhìn thấy khắp nơi, rất nhiều thể loại người đóe bao giờ biết làm gì ngoài việc than vãn hết thứ này đến thứ khác xảy ra cho bản thân họ. Con người hay giở cái trò than vãn và kêu khóc để chơi cái trò biến mình thành nạn nhân để nhận được lòng thương cảm và sự chú ý của mọi người (cái này, bọn kêu đường trên Facebook chơi suốt. Suốt ngày post ảnh trẻ con tàn tật hay các ông cụ bà cụ trên vỉa hè để câu view! Tởm đến lợm giọng).
Hãy nhận ra rằng, dù kêu ca nhiều đến thế nào thì các cụ cũng đóe thay đổi được tình hình thực tế. Đời đóe có chỗ cho sự công bằng, và nó luôn luôn là thế. Đàn ông đóe than phiền, đàn ông đóe bù lu bù loa lên. Cứ im lặng mà giải quyết nó. Khi có gì không đúng, các cụ xắn tay vào làm một cách tốt nhất để cải tạo nó. Trách nhiệm của đàn ông là đảm bảo những người quan trọng đối với cuộc đời các cụ được chăm sóc một cách cẩn thận nhất. Đương nhiên, khi một điều gì không hay xảy ra, chúng ta có thể suy sụp nhưng các cụ hãy nhớ, với vai trò của một thằng đàn ông, các cụ sẽ giải quyết được nó.
(st)
(nguồn: http://www.wikihow.com/Be-a-Bad-Boy)

Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

Công bằng, dân chủ dưới con mắt Phật giáo

Tác giả bài viết là là GS. Cao Huy Thuần - GS Đại học tại Pháp. Ông vừa là một trí thức có nhiều tác phẩm được ưa chuộng ở trong nước, vừa là một Phật tử có uy tín lớn trong giới Phật giáo. Với tư cách đó, ông đã đọc bài diễn văn sau đây trong Đại Lễ Phật Đản 2008, trước hàng ngàn người tại quảng trường Thương Bạc, TP.Huế.

Từ hơn bốn mươi năm nay, chưa bao giờ Việt Nam đứng ra tổ chức một lễ Phật Đản lớn về tất cả mọi mặt: tôn giáo, văn hóa, xã hội, và về cả chính trị như lần này. Nói lớn về cả chính trị là bởi trong ba ngày vừa qua, thủ đô Hà Nội là thủ đô Phật giáo của thế giới.
Nhân sự kiện này, cả thế giới đều biết Việt Nam. Nhưng Việt Nam được biết đến chỉ là một nước đã đi qua chiến tranh, cũng không phải chỉ là một nước đang trên đà phát triển kinh tế: Việt Nam sáng lên như một nước có văn hiến, có bản sắc, trong một thế giới mà nhiều người cho là đang đi đến đồng bộ. Như vậy, chẳng phải là một thắng lợi chính trị của Việt Nam hay sao?
Năm ngoái, Thái Lan đã được vinh hạnh tổ chức ngày Đại Lễ này, và ngày đó, năm ngoái, trùng hợp với ngày nhân dân Thái ăn mừng thượng thọ Nhà Vua 80 tuổi.
Năm nay, ngần ngại gì mà ta không nói: Ta tổ chức Phật Đản và ăn mừng chiến thắng chính trị và văn hóa của nước ta?
Trong Ngày Trăng Tròn năm nay, Huế tiếp nối Hà Nội, cùng với cả nước, là thủ đô của thế giới Phật giáo. Hà Nội vừa biểu dương khí thế chính trị và văn hóa của nước, nay đến lượt Huế biểu dương khí thế tôn giáo và văn hóa của dân.
Đất cố đô và cả nước ta bày ra cho thế giới thấy một xã hội tôn giáo đầy chất sống, rực rỡ màu sắc, sẵn sàng tạo hậu thuẫn cho một Nhà nước "vì dân, từ dân, lấy dân làm gốc".
Chính trong tinh thần đó mà tôi hân hoan chào mừng sự hiện diện của chính quyền trong Ban tổ chức Đại Lễ Phật Đản 2008. Tôi không xem đây như việc chính quyền xen vào nội bộ tôn giáo. Đặc biệt, tôi xem đây như một việc làm rất có ý thức, thể hiện điều tôi vừa nói: Nhà nước và Phật giáo cùng tổ chức ăn mừng chung một thắng lợi chung, một ngày rực rỡ chung.
Ngày Phật Đản của LHQ 2008 năm nay nói lên 3 sự kiện nổi bật. Một, là Phật giáo nói chung lớn mạnh trên thế giới. Hai, là Việt Nam lớn mạnh trên thế giới. Ba, là Phật giáo Việt Nam lớn mạnh trên thế giới.
1. Phật giáo lớn mạnh trên thế giới
Phật giáo lớn mạnh, trước hết là vì bản chất của Phật giáo. Phật giáo mang đến giải pháp cho con người, con người nói chung, chứ không phải riêng gì cho người xứ này xứ nọ. Không như Ấn Độ giáo chỉ liên quan đến người Ấn, Thần giáo chỉ liên quan đến người Nhật, hoặc Do Thái giáo chỉ liên quan đến người Do Thái... Trái lại, đã là người thì ai cũng có thể đón nhận thông điệp của Đức Phật.
Phật giáo lớn mạnh, thứ hai, là vì bản chất của chính thông điệp Phật giáo. Chiến tranh, hận thù, nghèo đói, bạo lực, áp bức, thời nào cũng có, nhưng thời nay, với phương tiện truyền thông nhanh như chớp, bao nhiêu hiện tượng đó nằm ngay trước mắt bất cứ ai, dù không phải là nạn nhân.
Nạn nhân khổ đã đành, người xem cảnh khổ trên màn ảnh cũng không thể không suy tư về cái khổ. Cái khổ diễn ra muôn hình vạn trạng. Ở xứ nghèo, khổ vì đói. Ở xứ giàu, khổ vì cô đơn, vì bất an trong nghề nghiệp, vì lạnh lẽo trong gia đình, vì mất an ninh trong xã hội, vì bị đe dọa ngay cả trong thức ăn và không khí, vì mất phương hướng trong cuộc sống.
Và dù giàu hay nghèo, ở đây hay ở đó, nhân loại nói chung, không trừ ai, đều là nạn nhân của một phi lý khiếp đảm, phi lý của cạnh tranh bất chính, bất lương, đưa cạnh tranh lên mức tận diệt môi trường, hủy hoại trái đất, đe dọa đời sống của thế hệ tương lai.
Và như thế để làm gì? Để đè bẹp kẻ khác, để thống trị, để làm bá chủ.
Trước một thế giới bạo lực như vậy, ai có tư duy mà không nghĩ đến hình ảnh ngọn lửa trong kinh, lửa tham, lửa sân, lửa si? Hiển nhiên, đức Phật nói đến ngọn lửa thiêu đốt trong tâm con người, nhưng lửa đang thiêu đốt thế giới có xa lạ gì với lửa thiêu đốt con người?
Tìm ở đâu cho thế giới hôm nay tiếng nói hòa bình đích thực, thuần khiết, tiếng nói từ bi thuần khiết, đích thực, nếu không phải nơi thông điệp của đức Phật?
Cho nên các tổng thư ký LHQ không ngừng nhắc nhở điều đó mỗi mùa Phật Đản. Họ nói: "Thông điệp đó ngày nay còn quan trọng hơn bao giờ hết".
Phật giáo lớn mạnh, thứ ba, là vì con người ngày nay, trong thời hiện đại, gặp nhiều vấn đề tâm linh và tâm lý khó giải quyết và họ tìm được nơi Phật giáo giải pháp thích hợp nhất.
Đó là lý do giải thích tại sao Phật giáo không ngừng lớn mạnh tại Âu Mỹ trong vòng phần tư thế kỷ vừa qua. Khoa học, kỹ thuật đã mang lại cho con người nói chung bao nhiêu lợi ích vật chất, và đã mang lại cho Âu Mỹ trù phú về vật chất, tự do về tư tưởng.
Thế nhưng con người vẫn là con người, nghĩa là vẫn ham muốn vô cùng tận, bao giờ cũng thấy thiếu. Ngày xưa, cái cảm giác thiếu ấy đã khiến con người ở các xứ đó tạo ra thượng đế để lấp vào chỗ thiếu.
Ngày nay, thượng đế ở trên trời không đóng nổi vai trò ấy nữa, một thượng đế khác ở dưới đất thay thế ngay, và một tôn giáo khác điền chỗ vào: ấy là tôn giáo tiêu thụ. Ông thần ấy đánh đúng vào tâm lý thiếu của con người: một nhu cầu được thỏa mãn lập tức biến ngay thành thiếu. Từ nhu cầu căn bản đến nhu cầu hưởng thụ, con người hiện đại chạy theo cái thiếu hụt hơi.
"Cuộc đời là khổ" - Phải hiểu chữ khổ thế nào?
Các bạn trẻ đang nghe tôi nói, một trong những vấn đề làm các bạn khó hiểu nhất khi đến với đạo Phật lại chính là vấn đề căn bản nhất mà nếu hiểu thì cái gì cũng hiểu.
Sau khi chứng ngộ dưới cây bồ đề, đức Phật tuyên bố chân lý đầu tiên: Cuộc đời là khổ. Các bạn đừng hiểu chữ khổ một cách nông nổi, cạn hẹp. Đức Phật đã phân tích trạng thái khổ dưới nhiều dạng khác nhau.
Khổ vì thân xác: đau yếu, bệnh tật, già chết. Khổ vì tinh thần: yêu mà không được yêu, yêu mà phải xa cách, ghét mà phải gần gũi, muốn mà không có được, có mà không giữ được, có mà hóa ra lầm, tưởng thế mà không phải thế ...
Các bạn sẽ nói: Thiếu gì giây phút hạnh phúc! Quả vậy, nhưng hãy chiêm nghiệm mà xem: Hạnh phúc có đấy nhưng đã qua vèo, không có cái gì thường còn trong đời sống này.
Các bạn lại sẽ hỏi: Vậy thì đạo Phật bi quan rồi? Không! Vậy thì đạo Phật lạc quan? Cũng không! Đạo Phật chỉ thấy sao nói vậy. Đạo Phật chỉ vào sự thật mà bất cứ ai biết nhìn, biết chứng nghiệm với chính kinh nghiệm bản thân, đều thấy.
Các bạn lại hỏi nữa: Như vậy đạo Phật không biết đến hạnh phúc hay sao? Đâu phải! Hạnh phúc chính là chuyện mà đạo Phật nhắm đến. Đức Phật nói khổ là để tìm nguyên nhân của khổ, rồi con đường dẫn ra khỏi khổ.
Và tận cùng là gì? Là hạnh phúc! Hạnh phúc thực sự chứ không phải là những thú vui mà ta cứ tưởng lầm là hạnh phúc. Khi ta biết rằng những thú vui rồi sẽ đi qua, đừng chạy theo nó hụt hơi nữa, thì đồng thời ta cũng sẽ thấy cái gì ở lại với ta: Cái đó là hạnh phúc, hạnh phúc thực sự.
Bây giờ, tôi trở lại với con người hiện đại, nhất là tại Âu Mỹ. Ở thành phần trung lưu, thật sự họ có thiếu cái gì đâu! Vậy mà họ cảm thấy thiếu thường xuyên, càng có càng thiếu. Y hệt như người khát nước cứ uống nước mặn, càng uống càng khát.
Cái tâm lý ấy, tình trạng ấy, là tâm lý gì, tình trạng gì? Là thất vọng. Là không thỏa mãn. Bao giờ cũng không thỏa mãn. Có rồi vẫn thất vọng. Đó là cái tâm lý, cái tình trạng mà đức Phật diễn tả trong chữ "khổ".
Khổ ấy mênh mông, mà bây giờ người trung lưu phương Tây thấy rõ hơn ai hết. Các bạn trẻ đừng sợ khi nghe nói: Con người trầm luân trong biển khổ. Cái biển khổ ấy, người phương Tây thấy mình ngụp lặn trong đó, rồi từ đó họ chứng nghiệm thông điệp của đức Phật. Không ai cải đạo họ cả, chính họ tìm đến đức Phật.
Vậy, Phật giáo là đạo của giải thoát, đạo của từ bi, đạo của hòa bình. LHQ tuyên bố như lời Tổng thư ký Perez de Cuellar nói trong ngày Phật Đản 1986: "Triết lý ấy nằm chính trong tim của Hiến chương LHQ và phải được biểu dương trong mọi suy nghĩ của chúng ta".
Với sự lớn mạnh của ảnh hưởng Phật giáo trên thế giới, LHQ bước thêm bước nữa: Năm 1999, Đại hội đồng LHQ biểu quyết công nhận ngày Phật Đản là ngày của quốc tế, được làm lễ kỷ niệm tại trụ sở LHQ và tại tất cả các cơ quan của LHQ.
Từ năm 2000, lễ Phật Đản mỗi năm đều được cử hành trong khung cảnh đó. Năm 2007, đặc biệt lễ Phật Đản trùng hợp với ngày đăng quang thứ 60 và ngày sinh nhật thứ 80 của Nhà Vua, Thái Lan tổ chức "Ngày Phật Đản của LHQ" một cách trọng thể chưa hề thấy. Việt Nam là nước thứ hai sau Thái Lan lãnh vinh dự này năm nay, và Hà Nội, sau Bangkok, trở thành thủ đô Phật giáo của thế giới trong mùa Phật Đản năm 2008. Điều đó thể hiện Phật giáo đang lớn mạnh trên thế giới.
2. Việt Nam lớn mạnh trên thế giới
Không phải tôi bênh gì nước tôi, nhưng tôi phải nói ngay: Việt Nam hơn Thái Lan. Hơn chỗ nào? Ở chỗ Việt Nam là nước đầu tiên, chứ không phải nước thứ hai như tôi vừa nói.
Lý do là thế này: Bắt đầu từ 2005, "Ngày Phật Đản của LHQ" được tổ chức tại Cơ quan châu Á - Thái Bình Dương của LHQ, mà trụ sở đặt tại Bangkok. Như vậy, Phật Đản 2007, tuy trọng thể, vẫn không có ý nghĩa gì đặc biệt đứng về mặt quốc gia đăng cai. Thái Lan vì có trụ sở của LHQ tại kinh đô, nên đương nhiên được hưởng lộc Phật Đản.
Việt Nam, không có trụ sở của LHQ, mà được LHQ trao lộc cho, thế mới đáng nói. Như vậy mà không phải là nước đầu tiên thì là gì?
Chúng ta nên hãnh diện cho đất nước của chúng ta về sự kiện lịch sử này. Bởi trước hết, uy tín của Việt Nam trên thế giới lên cao. Năm qua, Việt Nam là thành viên của Hội đồng bảo an LHQ. Việt Nam đã tổ chức thành công những hội nghị quốc tế quan trọng.
Thứ hai, Việt Nam nhận ra được gốc gác của mình mà ngôn ngữ nhà Phật gọi là bản lai diện mục. Như một người trở về lại nhà mình, Việt Nam tìm lại được bộ mặt thật của Việt Nam. Phật giáo không muốn chiếm độc quyền trong bản lai diện mục đó.
Nhưng hãy xem: ai đã tạo ra văn hóa, ai đã tạo ra đạo đức, ai đã tạo ra tâm hồn cho dân tộc ngày hôm nay? Nhờ đâu mà chúng ta đã không rơi hẳn vào quỹ đạo văn hóa của Trung Hoa, với thầy Khổng, thầy Mạnh, tứ thư, ngũ kinh thuộc lòng như húp cháo của cả tầng lớp nho sĩ nắm quyền?
Nhờ đâu mà chúng ta đã không hướng về phương Bắc để lạy như một thánh địa? Tất nhiên có người sẽ nói: Tại vì chúng ta có văn hóa bản địa. Nhưng văn hóa bản địa thì khó thấy, văn hóa Phật giáo thì sờ sờ trước mắt.
Như một chất xúc tác, Phật giáo đã dung hóa tất cả, góp phần tạo ra bộ mặt văn hiến mà Nguyễn Trải, một người uyên thâm Phật giáo, đã xác quyết ngay trong những câu đầu của Bình Ngô Đại Cáo: "Nước ta là một nước văn hiến".
Để tuyên ngôn độc lập với phương Bắc, Nguyễn Trãi tôn văn hiến lên hàng đầu, văn hóa là linh hồn của một dân tộc.
Bây giờ đây, nước ta đã hết Bắc thuộc, đã hết Tây thuộc, hết chiến tranh, hết ngoại thuộc, bây giờ đây, chủ quyền đã được củng cố, phần xác đã tạm ổn, hãy lo phần hồn cho dân tộc, bởi vì đó mới chính là sức mạnh trường tồn.
Làm nước đầu tiên không có trụ sở của một cơ quan LHQ đăng cai tổ chức Phật Đản, Việt Nam xác nhận long trọng trước thế giới gốc gác của mình và cả hướng đi của mình. Hướng đi đó mở ra một chân trời ngoại giao đầy thiện cảm với thế giới và nhất là với lân bang.
Thứ ba, và đây là điểm quan trọng nhất, Việt Nam lớn mạnh cho nên không ngần ngại đối mặt với những vấn đề nhạy cảm nhất của thời đại. Đó là những vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong chính chủ đề của "Ngày Phật Đản của LHQ 2008". Chủ đề của LHQ ghi rõ: "Đóng góp của Phật giáo vào việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và dân sự".
Vấn đề đặt ra trong ngày lễ trọng đại như thế này, trên đà tiến như thế này của đất nước, chúng ta có bổn phận phải trả lời như một người trưởng thành.
Cái nhìn của đức Phật về sự công bằng của con người
Muốn trả lời câu hỏi "Thế nào là công bằng trước mắt Phật giáo?" một cách cụ thể, không gì bằng nhìn hình ảnh của chính đức Phật và xã hội chung quanh Ngài.
Thầy và trò sống như nhau, không khác: một bình bát, ba tấm y. Trò đi khất thực, Thầy cũng đi khất thực, Thầy cũng bưng bình bát đứng trước cửa nhà dân, không phân biệt giàu nghèo sang hèn. Thầy không bắt trò mang thức ăn về cho mình, Thầy đội chung giờ ngọ và mặt trời trên đầu cùng với trò.

Hành động khất thực cũng là một hành động công bằng: ở đây không có kẻ xin người cho, ở đây ai cũng cho, một bên cho thực phẩm, một bên cho phước đức. Đức Phật tự mình đi khất thực, chính cũng vì muốn cho, tự mình cho, và đức Phật mà cho thì phước đức lớn không lường được. Công bằng là như vậy: không phải chỉ biết đòi mà còn biết cho.

Trong một xã hội mà ai cũng chỉ đòi, không ai biết cho, thì dù xã hội đó có thực hiện được công bằng đi nữa, trước sau gì cũng mất tự do.
Công bằng nằm trong cái nhìn của đức Phật về con người: con người ai cũng có Phật tính như ai, cho nên mọi sự phân biệt giàu nghèo, sang hèn, nam nữ, giai cấp, đều không có nghĩa.
Ngài A Nan, đại đệ tử của Phật, đã nói một câu nhẹ nhàng mà triệt để cách mạng với cô thiếu nữ hạ tiện không dám múc nước giếng dâng ngài, sợ bàn tay hạ tiện làm bẩn nước: "Tôi xin nước chứ không xin giai cấp".
Tôi kể thêm: ai cạo tóc cho đức Phật? Bác thợ cạo Upali, giai cấp hạ tiện! Vậy mà bác cũng đã trở thành đại đệ tử, bác đã chứng A-la-hán!
Nhưng công bằng có phải là ai cũng ngang nhau, bằng nhau tuyệt đối hay không? Chắc chắn là không, không bao giờ có tình trạng đó. Đức Phật thấy ai cũng có Phật tính như ai, nhưng Ngài cũng thấy ai giác ngộ sớm hơn ai. Gặp người đã chín muồi giác ngộ, dù người đó là tướng cướp, Ngài chỉ dạy thêm một lời là người đó chứng A-la-hán.
Trong hàng đệ tử của Ngài, đâu có phải ai cũng là A-la-hán? Ngang nhau nhưng không giống nhau, bình đẳng nhưng không đồng đẳng, đó là căn bản của công bằng.
Bởi vậy, sự phân biệt duy nhất trong Phật giáo giữa người với nhau là sự phân biệt dựa trên khả năng giải thoát, dựa trên đức hạnh.
Ngang nhau nhưng không giống nhau
Luật của nhà chùa y theo quan niệm công bằng như thế mà xử. Người có đức hạnh lớn không bị xử ngang hàng như người có đức hạnh nhỏ. Tỷ như bỏ một nắm muối vào chén nước, nước mặn uống không được; bỏ nắm muối vào chum nước, nước uống được, chẳng sao.
Người ít đức thiện ví như chén nước: nếu người ấy làm thêm một điều bất thiện nữa, nào có khác gì bỏ muối vào chén. Người có nhiều đức thiện, ví như nước trong chum, lỡ lầm làm một điều bất thiện, muối ấy đâu có làm mặn nước.
Đó là phẩm "Hạt Muối", áp dụng trong luật nhà chùa. Ngang nhau nhưng không giống nhau. Tất nhiên, đây là tội về đức hạnh, không phải tội ngoài đời.
Áp dụng quan niệm ấy vào đời trong tình trạng bất bình đẳng giàu nghèo tàn nhẫn hiện nay, tất nhiên Phật tử chúng tôi đau xót cho tình trạng bất nhẫn này và mong được cải thiện, nhưng chúng tôi cũng đi đến cùng một kết luận với nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt khi ông viết gần đây: "Kinh nghiệm sau hơn hai thập kỷ đổi mới cho thấy, không thể có "công bằng" đúng nghĩa trong một xã hội mà tất cả đều nghèo. Cũng không thể "cào bằng" bằng cách "điều tiết" hết lợi ích của người giàu để chia cho người nghèo. Xã hội sẽ không phát triển nếu không có chính sách kích thích một bộ phận dân chúng vươn lên làm giàu chính đáng"
Công bằng là như thế. Là Nhà nước phải giải phóng những lực lượng nào có khả năng làm phát triển đất nước, đừng kìm hãm họ lại.
Những lực lượng đó, hiện nay có hai: Một là doanh nhân tư nhân độc lập, hai là trí thức. Một bên là của cải lương thiện, một bên là cái đầu sáng tạo. Không có hai lực lượng đó, Âu châu đã chẳng bao giờ làm được cách mạng kỹ nghệ và thế kỷ Khai Sáng, đưa họ lên địa vị hàng đầu thế giới.
Lãnh đạo: Càng đo càng cao
Tôi chỉ xin mượn câu viết của ông Võ Văn Kiệt để nói thêm một lời về lãnh đạo. Dân thường nghe nói: lãnh đạo phải cao hơn người khác một cái đầu. Quá đúng!
Thế nhưng, cao hơn một cái đầu không có nghĩa là mình cứ lùn và đè đầu mọi người khác xuống để mình cứ cao hơn. Thế nào là lãnh đạo cao hơn một cái đầu?
Tôi lại kể chuyện Phật. Có một người Bà la môn nghe nói thân Phật cao 1 trượng 6 thì không tin, bèn vào rừng chặt một cây trúc dài để đem đến đo Phật. Ông càng đo thì Phật càng cao. Vác cái thang đến, leo lên thang để đo, vẫn thế, sào cao đến đâu, Phật cao hơn sào đến đó. Lãnh đạo là như vậy, là tự mình cao mãi hơn, cao hơn cả chính mình, cao về tài năng, cao về đạo đức. Đó là công bằng.
Dân chủ là "tự tứ"
Bây giờ là dân chủ. Tôi lại kể chuyện đức Phật. Luật của nhà chùa buộc tăng ni phải họp nhau có định kỳ để chỉ lỗi cho nhau và để sửa lỗi. Luật đó có từ lúc nào? Có từ đời đức Phật.
Cứ sau ba tháng an cư, Phật lại họp tăng chúng để "tự tứ", nghĩa là để sửa lỗi cho nhau và cùng sám hối lỗi.
Phật trải tọa cụ ngồi giữa khoảng đất trống, tỷ kheo ngồi chung quanh. Phật hỏi tăng chúng : « Hôm nay tôi tự tứ: Tôi có lỗi với ai không? Thân, miệng, ý của tôi có phạm lỗi gì không?"
Phật hỏi ba lần như vậy. Đã ai thấy một vị giáo chủ của một tôn giáo nào có tư tưởng, hành động và tập quán như vậy chưa? Lãnh đạo mà cư xử như thế, thế gian cũng không thấy.
Từ đó suy ra: Dân chủ là lãnh đạo không phải chỉ thường xuyên biết nghe ý kiến của dân, mà còn tổ chức, thành lập, áp dụng định chế để dân chỉ lỗi, sửa lỗi. Phát triển ý đó, thiếu gì biện pháp để thực hiện dân chủ!
"Vua đừng chống lại ý của dân" - ấy mới là dân chủ
Tôi lại kể thêm chuyện đức Phật. Trong "Mười bổn phận của vua" mà Ngài khuyên, điều thứ 8 nguyên văn như sau: "Kiên nhẫn, biết tha lỗi, khoan dung, hiểu biết. Vua phải có khả năng chịu đựng những thử thách, những khó khăn, và những lời nhục mạ mà không giận".
Nhục mạ mà còn không giận, huống hồ chỉ là phê bình, chỉ trích! Chỉ là phê bình, chỉ trích xây dựng!
Điều thứ 10 nói tiếp theo: "Không chống lại, không làm bế tắc. Nghĩa là vua không được chống lại ý muốn của dân, không ngăn cản một biện pháp nào có lợi cho hạnh phúc của dân chúng. Nói một cách khác, vua phải hòa hợp với dân". Đó là nguyên văn điều 10.
Từ đó mà suy ra, cũng không thiếu gì biện pháp để cụ thể hóa lời khuyên "đừng chống lại ý muốn của dân". Chỉ chừng đó thôi, chừng đó thôi, quá đủ để thực hiện dân chủ mà không cần phải vay mượn lý thuyết của ai, dưới áp lực của ai, từ chân trời nào khác.
Tinh hoa của đạo Phật là chống giáo điều
Nhưng muốn nói thêm nữa thì tôi kể thêm. Lúc nhập diệt, Phật không chỉ định ai để thay thế Ngài thống lĩnh tăng chúng. Ngài nói: "Sau khi ta nhập diệt, hãy lấy Pháp và Luật làm Thầy". Pháp là lời Phật dạy.
Giới luật là đạo đức và luật áp dụng trong đời sống của tăng ni. Ai nghiên cứu giới luật của Phật giáo đều ngạc nhiên về tính cách dân chủ trong đó.
Ở đây, tôi chỉ muốn nhấn mạnh một điểm này thôi: lấy Pháp và Giới Luật làm thầy nghĩa là gì? Nghĩa là bản thân của lãnh đạo cũng chịu ở dưới Pháp và dưới Luật như tất cả mọi người. Ngôn ngữ ngày nay gọi đó là "Nhà nước pháp quyền", điều kiện tất yếu của dân chủ.
Tôi nói thêm nữa. Tinh hoa của đạo Phật là gì? Là chống giáo điều. Tinh hoa ấy toát ra từ mỗi lời dạy của đức Phật.
Bài kinh Kalama chẳng hạn đã làm thế giới kinh ngạc về tư tưởng chống giáo điều, chống việc tin mà không hiểu. Phật dạy: Đừng tin bất cứ ai, bất cứ điều gì mà tự mình không hiểu rõ. Thậm chí Phật còn dạy một vị tăng phải quan sát, xem xét chính Ngài thật kỹ cho đến khi nào hoàn toàn được thuyết phục. Hiểu cho rõ rồi mới tin.
Cho đến phút cuối, trước khi nhập diệt, Phật còn khuyến khích đệ tử hỏi những chỗ nào chưa hiểu rõ trong giáo lý của Ngài để Ngài giảng lại lần cuối. Không ai hỏi, Ngài thúc: "Nếu vì kính trọng ta mà không ai tự mình đặt câu hỏi, cứ nhờ người khác hỏi thế cho".
Cái gì chứa đựng trong những câu nói đó? Không phải chỉ là tự do tư tưởng mà còn là tư tưởng rốt ráo về tự do, tư duy rốt ráo về tự do: Đó là tự do căn bản, tự do nằm trong tinh túy của mọi nền dân chủ. Không thể có dân chủ nếu ta bị bắt buộc phải nghe mà không tin, nghe những điều mà ta thấy là không đúng, là trái với sự thực trước mắt. Cũng không thể có dân chủ nếu ta buộc người khác không được nói.
Đức Phật căn dặn trước khi nhập diệt: "Hãy đặt câu hỏi!". Đặt câu hỏi, tức là thúc dục người khác nói. Và người khác dám nói là vì ta biết nghe. Nghe và nói trong tinh thần đó tức là khoan dung, và cả thế giới đều xưng tụng tinh túy khoan dung trong giáo lý của Phật. Tinh thần khoan dung đó, văn hóa khoan dung đó, vua A Dục ngày xưa đã cho khắc vào trụ đá vá áp dụng triệt để.
Vua A Dục là Phật tử thuần khiết, vậy mà dưới triều đại A Dục, mọi tôn giáo đều được tôn trọng trong vương quốc rộng lớn của vua. Ông không tuyên truyền. Ông không nhồi sọ. Đức Phật không bao giờ phán. Bất cứ ai đến chất vấn, Ngài đều dùng đối thoại để thuyết phục. Phật là ông thầy giảng bài một cách khoa học.
Chừng mực, vừa phải cũng là căn bản của đạo Phật
Tôi lại xin nói thêm nữa, và đây cũng là căn bản của đạo Phật. Giáo lý của đức Phật dạy sự chừng mực, vừa phải. Mà vừa phải, chừng mực, là căn bản của dân chủ. Bất cứ sự thái quá nào đều làm hỏng dân chủ.
Tự do thái quá thì hỗn loạn. Tập trung quyền lực thái quá thì chuyên chế. Dân chủ là tránh cả hai thái cực, và tránh như thế nào là tùy óc sáng tạo của mỗi dân tộc. Dân tộc ta có văn hóa Phật giáo, văn hóa ấy phản ánh hình ảnh của đức Phật trước giờ chứng ngộ.
Phật từ bỏ lối tu ép xác, nhận bát sữa cúng dường của cô gái chăn cừu, xuống sông tắm, rồi lên ngồi dưới cây bồ đề. Bát sữa đã giúp Ngài tĩnh tọa cho đến khi Ngài chứng ngộ chân lý. Sau này, có lần Phật nói với một người đang đói hãy đi ăn cho hết đói rồi Ngài mới giảng cho.
Trong lý thuyết, cũng như trong tu tập, đạo Phật không bao giờ cực đoan, trung đạo là con đường Phật dạy do chính kinh nghiệm chứng ngộ của Ngài. Trung đạo của Phật giáo, đó cũng chính là nền tảng của dân chủ.
3. Phật giáo Việt Nam lớn mạnh
Chúng ta đang lớn mạnh, không phải chỉ vì số chùa chiền được xây nhiều, xây to hơn. Nếu như vậy mà lớn, thì đó là lớn vỏ, lớn xác, không lớn cái hồn. Chúng ta đang lớn, kể cả phần hồn, và khí thế ngày hôm nay chứng minh sự xác quyết đó.
Phật Giáo chúng ta lớn trong xã hội nào? Không phải trong xã hội chính trị mà ta không ham. Chúng ta lớn trong xã hội dân sự. Xã hội chính trị là xã hội quyền lực. Xã hội dân sự là xã hội của dân gian.
Phật giáo không làm chính trị và không bao giờ muốn dính dáng đến chính trị với nghĩa quyền lực. Phật giáo chỉ muốn sống với dân. Giữa xã hội chính trị và xã hội dân sự, đường phân chia rạch ròi hay không là tùy theo chế độ chính trị của mỗi nước.
Ở nước ta, đường phân chia đó không rạch ròi, nhưng chắc chắn càng ngày càng sẽ rạch ròi hơn. Mặt Trận Tổ Quốc *MTTQ) chẳng hạn là cơ quan của xã hội chính trị, nhưng có trách nhiệm quan hệ với xã hội dân sự. Ở đây, chúng ta không đề cập đến vấn đề trọng đại này.
Ở đây, chúng ta chỉ muốn nói: Dù có MTTQ hay không, Phật giáo chỉ có một con đường duy nhất thôi là trung thành với Nhà nước Việt Nam, phụng sự dân chúng. Có hay không có MTTQ, nhiệm vụ của Phật giáo bao giờ cũng vẫn thế: Phát triển văn hóa dân tộc, chấn hưng đạo đức, làm nhẹ nỗi khổ của cô quả, nghèo đói, bệnh tật.
Thế nào là văn hóa dân tộc? Thế nào là đạo đức dân tộc ? Để cho các nhà học giả thông thái tranh luận với nhau, chúng ta chỉ cần nói với họ thế này: điều gì mà chỉ cần bật ra một tiếng là dân gian hiểu ngay và nhận ra ngay rằng đó là tư tưởng của chính mình, dù là người dân ít học nhất, điều ấy nằm trong văn hóa của dân tộc, đạo đức của dân tộc.
Điều gì vậy? Một ví dụ thôi: Ba chữ tham sân si. Nói ra, ai cũng hiểu, ai cũng nhận, ai cũng nghĩ là chân lý. Lúc trước, tôi có nhắc đến bài kinh "Ngọn lửa". Lửa gì đang đốt cháy thế giới ? Lửa chiến tranh, lửa hận thù, lửa bạo lực, lửa cuồng tín, lửa tiêu thụ chủ nghĩa. Dân ta nói gọn : lửa tham sân si. Là vì tư tưởng ấy của Phật giáo đã thấm sâu vào đầu của dân ! Cái gì cắt nghĩa tham nhũng, cái gì cắt nghĩa tình trạng giàu nghèo chênh lệch tàn bạo hiện nay, cái gì cắt nghĩa những cản trở trong phát triển? Dân ta nói gọn: Tham Sân Si.
Vậy thì Phật giáo làm gì? Đời đời kiếp kiếp làm mỗi cái chuyện dẹp lửa ấy mà thôi. Dẹp lửa ấy trong lòng chính mình. Dẹp lửa ấy trong vòng nội bộ. Dẹp lửa ấy trong lòng xã hội.
Chúng ta làm công việc ấy càng độc lập càng tốt. Chính quyền càng nên ủng hộ chúng tôi độc lập. Bởi vì chúng tôi không có tham vọng chính trị. Bởi vì chúng tôi không nhận lệnh từ một thánh địa quyền lực nào.
Độc lập, chúng tôi sẽ giải quyết được những mâu thuẫn nội bộ. Can thiệp, lửa tham sân si từ bên ngoài càng bén vào mâu thuẫn giữa chúng tôi, không có lợi cho chính quyền, cũng không có lợi cho xã hội. Chúng tôi tốt thì chính quyền tốt, xã hội tốt. Chúng tôi xấu thì cả đất nước này sẽ mất phần hồn.
Trong Phật giáo có một tín ngưỡng cũng đã thấm vào ngôn ngữ và tư tưởng của dân gian: tin có hộ pháp. Hộ pháp bảo vệ cho chùa. Hộ pháp bảo vệ cho chánh pháp. Hộ pháp bảo vệ cho những nơi chốn linh thiêng.
Đứng trong xã hội dân sự, Phật giáo là hộ pháp của Nhà nước để Nhà nước thực sự xứng đáng là Nhà nước của dân. Trong lịch sử đã thế, ngày nay lại càng phải thế. Một nhà lãnh đạo có tầm cỡ lớn sẽ không nhìn Phật giáo như bất cứ đoàn thể quần chúng nào.
Phật giáo không phải là một đoàn thể, lại càng không phải là một phong trào. Phật giáo là hộ pháp của Nhà nước, một Nhà nước hết lòng lo cho dân. Phật giáo làm nhiệm vụ mà Bình Ngô Đại Cáo đặt ngay nơi câu đầu tiên: Nhiệm vụ an dân, "việc nhân nghĩa cốt ở an dân". "Quốc thái dân an" là nhiệm vụ của Phật giáo từ những bước đầu của lịch sử.
Hôm nay, chúng ta đi trong ánh nến từ Diệu Đế đến Từ Đàm là để nhắc nhở cho tất cả và cho chính chúng ta nhiệm vụ thiêng liêng đó. Chúng ta là hộ pháp. Chúng ta phải hiểu chúng ta là như thế để đừng làm nhục vai trò đó của tổ tiên.
Và như vậy, chúng ta, hôm nay, hãy cùng với chính quyền, tay trong tay, ăn mừng "Ngày Phật Đản của LHQ 2008".

Lan man chuyện báo chí … bán dâm

GS Nguyễn Văn Tuấn Blog
Ở các nước phương Tây, người ta có câu “sex sells”. Hễ cái gì liên quan đến dục tính (sex) hay có một chút dâm là cái đó sẽ được bán chạy. Báo chí cũng thế, số nào có bài liên quan đến sex là bán chạy. Ở Việt Nam tôi thấy cũng có xu hướng sex sells. Mấy ngày qua, mở bất cử tờ báo mạng nào cũng thấy những bản tin, những câu chuyện liên quan đến hoa hậu Mỹ Xuân, người mới bị buộc tội bán dâm và phải ngồi tù 30 tháng. Nhưng điều đáng nói ở đây là Mỹ Xuân vừa là đối tượng mà cũng bị biến thành nạn nhân của những người chạy theo phong trào sex sells. Một buổi sáng bức xúc nên phải viết vài dòng để làm nhật kí.

Một trong những thói quen mỗi sáng của tôi (như sáng nay) là dạo qua một vòng báo chí mạng xem những “tin đọc nhiều nhất”. Không phải tôi đọc những tin đó, mà để xem người ta chú ý đến cái gì nhiều nhất. Biết được xu hướng này cũng cho chúng ta một vài ý niệm về trình độ dân trí và trình độ báo chí. Tôi thấy một cách nhất quán là người đọc báo (ít ra là báo mạng) ngày nay hay quan tâm đến những sự việc liên quan đến bạo lực (như giết người, cưới giựt) và … sex. Tiêu biểu cho xu hướng này là những tin được đọc nhiều nhất trên tuoitre.vn sáng nay (29/6):

• Mẹ sát hại 2 con ruột rồi tự vẫn
• Con trai Michael Jackson lần đầu tiết lộ về cái chết của cha
• Nam ca sĩ trẻ dọa tự tử vì bị Phạm Băng Băng “ngó lơ”
• Vàng nhà nước bán như "tôm tươi", dân mua rối bời
• Qua một đêm, lỗ 2,2 triệu đồng/lượng vàng
• Thân phận mại dâm nam - Kỳ 4: “Tai nạn nghề nghiệp”
• Cựu quan chức lộ băng sex nhận 13 năm tù
• Hoãn phiên tòa xét xử nguyên thượng sĩ công an dâm ô hàng loạt trẻ em
• Ôm tiền xếp hàng mua vàng trong tâm trạng phập phồng
• Bắt phó giám đốc MB.24 Lào Cai
• Hình ảnh phiên tòa hoa hậu, người mẫu môi giới mại dâm

Trong 11 bản tin được đọc nhiều nhất ở danh sách trên, có đến 4 bản tin liên quan đến sex! Trước đây, hình như có một thống kê của Google cho thấy người Việt khi lên mạng họ tìm những gì liên quan đến sex nhiều nhất. Có quá không nếu nói rằng Việt Nam là một đất nước đang bị obsessed (ám ảnh) vì sex.

Mà, obsession thì đi đôi với và hệ quả của suppression (cấm chỉ, ngăn chận). Cũng giống như người ta không có tự do nên mới khao khát đến độ ám ảnh vì tự do. Trong một xã hội mà những thảo luận về sex bị ngăn chận bằng luật pháp hay nguyên tắc đạo lí, và khi xã hội đó được mở thì mới tiết lộ “màu sắc” thật của nó. Tôi nghĩ tương tự, vì sex là một đề tài cấm kị, kiểu ai nói đến sex đều được xem là taboo, cho nên khi truy cập được Google thì người ta hăng say đi tìm cái cấm kị đó. Mà, báo chí thì cũng chỉ là thành viên trong xã hội thôi. Nhìn như thế thì có lẽ chúng ta không ngạc nhiên khi thấy giới báo chí rất thích những đề tài về sex hay liên quan đến sex. Có thể xem báo chí là những doanh nghiệp buôn bán thông tin. Thành ra, tôi nghĩ họ (giới báo chí VN) đang trở thành những nhà buôn sex.

Nhưng tôi nghĩ ở Việt Nam còn một vài lí do khác có thể giải thích tại sao giới báo chí chuộng buôn sex: họ bị đàn áp (hiểu theo nghĩa suppression) không cho đưa tin thời sự chính trị người dân quan tâm, nên họ phải quay sang bán sex. Theo tôi biết thì những bản tin của báo chí VN đều có định hướng từ đảng, hay cụ thể là ban tuyên giáo. Tuần nào họ cũng có chỉ thị phải đăng tin này, không đăng tin kia, tránh đề tài nọ. Một trong những đề tài cần cẩn thận là … chính trị. Tờ báo nào ở VN cũng đều có mục/cột chính trị - xã hội, nhưng nhìn vào cột đó chúng ta thấy toàn là những tin “phải đạo” theo hướng Nhà nước hay cụ thể là Thông tấn xã VN. Có rất nhiều những tin như lãnh đạo này đi thăm cơ sở kia, lãnh đạo nọ làm việc với tỉnh nọ, và những câu chữ mà đọc lên là người ta thấy rất quen quen (như “quyết tâm”, “kiên quyết”, “giữ vững”, v.v.) Không có hay rất ít những tin mà người dân quan tâm như vấn đề biển đông, vấn đề Tàu đang đe doạ Việt Nam, tham ô hối lộ, kinh tế và nợ công, v.v. Có thể tóm tắt rằng những gì người dân thật sự muốn biết thì báo chí không đưa tin, còn những gì báo chí đưa tin một cách hăng hái thì người dân không muốn biết. Nhưng báo chí là doanh nghiệp, và doanh nghiệp thì cần bán báo, cần người đọc. Không có những bản tin hấp dẫn về tham ô hối lộ thì họ phải quay sang bán những tin tức sex. Do đó, tôi nghĩ không khó hiểu khi báo chí VN rất hăng say với sex.

Cái hay của sex là nó hấp dẫn hơn những vấn đề thời sự nhàm chán. So với thời sự là chuyện đâu đâu, sex gần gũi hơn với người đọc. Sex ướt át với tuổi trẻ, và có hiệu ứng gây mê cho người lớn. Sex là liều thuốc an thần cho xã hội, vì qua nó mà người ta xoa dịu những nhọc nhằn và khó khăn của đất nước. Sex, cũng như thể thao, còn là nguồn giải trí mà qua đó những người cầm trịch xã hội muốn làm cho người dân quên đi những vấn đề bức xúc trong xã hội và bớt quan tâm đến an ninh quốc gia. Ngày xưa, người Pháp khi đô hộ VN họ áp dụng “nghệ thuật” đánh lạc hướng này rất hiệu quả. Lịch sử bây giờ có khi chỉ tái lập những gì thuộc ngày xưa.

Chạy theo sex sells còn là một cách rất tuyệt vời để khinh thường độc giả. Tuy sex là đề tài hấp dẫn, nhưng nó là loại đề tài thấp về mặt tri thức. Sex thuộc về bản năng của con người. Sex là đề tài bàn luận của những người kém văn hoá, chứ khó có thể là đề tài của người có văn hoá. Khi báo chí đua nhau đưa tin về sex cũng có nghĩa là họ xem thường độc giả. Đó là cách nói: chúng bay ngu dốt quá, làm sao có thể hiểu chuyện lớn được, nên chúng tao chỉ cho chúng bay đọc mấy thứ vớ vẩn thôi. Có thể báo chí không có ý đó, nhưng người đứng ngoài cuộc hiểu như thế.

Tôi thấy trong cơn xoáy điên cuồng sex sells ở Việt Nam, nữ giới là người bị thiệt thòi nhất. Người ta in những tấm hình nóng bỏng và khêu gợi của những cô gái được cho là ca sĩ, hoa khôi, hoa hậu, người mẫu trên báo, và chỉ ra họ là những người “bán dâm”. Có báo còn viết ra những con số về giá bán dâm, và số tiền đó được chia chác ra sao giữa các bên liên đới. Cách đưa tin như thế làm cho người đọc thấy những người đẹp kia chỉ là hàng hoá, một loại hàng hoá mà người nhiều tiền lắm của có thể mua. Đằng sau những bức hình đó, tôi đoán giới báo chí muốn nói rằng họ đẹp như thế đấy, nhưng họ cũng rất nhơ nhuốc. Đó còn là một cách khinh miệt giới nữ của giới báo chí. Người mình (mà hạng người có học – báo chí có thể xem là “có học”) mà khinh người mình, thì đừng trách tại sao báo chí Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan trưng hình phụ nữ Việt Nam như là những hàng hoá sex.

Trong cơn sốt sex sells vừa qua, có một điểm ít ai chú ý: không hề thấy bóng dáng của nam giới. Chúng ta không hế thấy báo chí cho biết danh tính của những người mua dâm. Những người này chắc chắn là nam và đại gia. Tại sao trong vụ mua bán dâm ở Hà Giang, báo chí sẵn sàng đưa tên của những người mua dâm như Sầm Đức Sương, Nguyễn Trường Tô (và một danh sách gần 20 quan chức), mà lần này thì họ không nói đến những kẻ mua dâm. Phải có cầu thì mới có cung chứ. Có thể họ là những người quyền thế và lắm tiền để có thể bịt miệng báo chí (còn trong trường hợp Hà Giang thì những người bị nêu tên là thấp cổ bé họng và/hay đang sắp xuống chức). Nếu không có những người sẵn sàng bỏ hàng ngàn USD để mua dâm thì làm sao có người cung ứng. Ấy thế mà nạn nhân trong trường hợp mua bán dâm mới nhất là những người đẹp, mà không có người mua dâm nào bị phạt cả. Ở các nước văn minh, người ta phạt người mua dâm là chính, (chúng ta còn nhớ vụ ông tổng giám đốc ngân hàng Thuỵ Sĩ ngồi tù vì mua dâm gái 17 tuổi, và vụ ông tổng giám đốc IMF đi tù vì nghi ngờ mua dâm). Ấy thế mà ở Việt Nam, nạn nhân là người bán dâm. Người ta đánh giá mức độ tiến bộ và văn minh của một xã hội qua cách đối xử với phụ nữ và sex. Thái độ của báo chí và luật pháp Việt Nam trong vụ mua bán dâm mới nhất là một điểm đen, và điểm đen đó đặt Việt Nam bên lề những xã hội văn minh.

10 CHIẾN LƯỢC THAO TÚNG ĐÁM ĐÔNG – Bạn có thuộc về đám đông không?

Tại sao ở Việt Nam Facebook bị chặn nhưng những web sex không bị chặn? Tại sao giáo dục nước nhà vẫn đang trì trệ trong khi có những mô hình giáo dục tiến bộ như trường thực nghiệm Công nghệ Giáo dục của GS. TSKH. Hồ Ngọc Đại? Tại sao ở các nước tiến bộ thì “chúng” được gọi là “phe đối lập” còn ở nước ta bị gán cho là thành phần “suy thoái”? Tại sao các thông tin lá cải Sex – Sock – Sến lại tràn ngập trên các tờ báo mạng, trong khi những tin về như về thay đổi Hiến Pháp thì có đến 40% dân chúng không hay biết đến?
Qua bài viết sau đây, chúng tôi hy vọng có thể giúp bạn đọc có một cái nhìn về hậu cảnh về những việc đang được xem là đương nhiên trong xã hội Việt Nam hiện nay do Noam Chomsky, nhà ngôn ngữ học, triết học, nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, xây dựng. Đây là một danh sách mười chiến lược thao túng đám đông mà ông quan sát được qua các phương tiện truyền thông:

1 / CHIẾN LƯỢC PHÂN TÂM
Yếu tố thiết yếu của việc kiểm soát xã hội, chiến lược chuyển hướng bao gồm chuyển hướng sự chú ý của công chúng đối với các vấn đề quan trọng và những thay đổi do giới tinh hoa chính trị và kinh tế quyết định, thông qua việc đưa ra một loạt thông tin tràn ngập liên tục nhưng ít có ý nghĩa. Chiến lược phân tâm cũng rất quan trọng nhằm ngăn cản công chúng tiếp cận những kiến thức cần thiết trong các lĩnh vực khoa học, kinh tế, tâm lý học, sinh học thần kinh, và điều khiển học. “Hãy làm phân tâm sự chú ý của công chúng khỏi các vấn đề xã hội thiết thực, hấp dẫn họ bằng những vấn đề không quan trọng thực sự. Tiếp tục làm họ bận rộn, bận rộn, bận rộn, không có thời gian để suy nghĩ, và trở lại chuồng với các động vật khác. ” (Trích từ ” Vũ khí im lặng cho cuộc chiến thầm lặng”- “Armes silencieuses pour guerres tranquilles”)
2/ TẠO RA VẤN ĐỀ VÀ SAU ĐÓ CUNG CẤP CÁC GIẢI PHÁP 
Phương pháp này còn được gọi là “vấn đề-phản ứng-giải pháp.” Đầu tiên, người ta tạo ra một vấn đề, một “tình huống” dự định để gây nên phản ứng nhất định đối với công chúng, khiến công chúng yêu cầu thực thi các biện pháp mà kẻ thao túng muốn công chúng chấp nhận. Ví dụ: để cho bạo lực đô thị phát triển, hoặc tổ chức các cuộc tấn công đẫm máu, để công chúng yêu cầu luật về an ninh với giá phải trả là quyền tự do hạn chế. Hoặc: tạo ra một cuộc khủng hoảng kinh tế mà sự suy giảm các quyền xã hội và loại bỏ các dịch vụ công được chấp nhận như một “điều ác cần thiết”.
3 / CHIẾN LƯỢC SUY GIẢM DẦN
Để chấp nhận một biện pháp khó chấp nhận, đơn giản là chỉ việc áp dụng nó dần dần trong khoảng thời gian 10 năm. Đó là cách mà theo cách này các điều kiện kinh tế xã hội mới hoàn toàn (theo chủ nghĩa tân tự do) đã được áp đặt trong những năm 1980-1990. Thất nghiệp tràn lan, bấp bênh, tính linh hoạt, phi địa phương hóa, tiền lương không còn có thể đảm bảo một thu nhập xứng đáng, nhiều thay đổi như vậy có thể đã mang lại một cuộc cách mạng nếu như được áp dụng đột ngột.
4 / CHIẾN LƯỢC TRÌ HOÃN
Một cách khác để những quyết định không được lòng dân được chấp nhận là trình bày nó như là một “đau đớn nhưng cần thiết”, đạt được sự chấp nhận của công chúng trong hiện tại cho việc áp dụng trong tương lai. Luôn luôn là dễ dàng hơn nếu chấp nhận sự hy sinh trong tương lai thay vì ngay lập tức. Trước tiên, bởi vì những hiệu quả này không xảy ra ngay lập tức. Thứ hai, bởi vì công chúng vẫn có xu hướng mong đợi một cách ngây thơ rằng “tất cả mọi thứ sẽ tốt hơn vào ngày mai” và rằng sự hy sinh cần thiết có thể tránh được. Cuối cùng, nó cho phép công chúng có thời gian làm quen với ý tưởng về sự thay đổi và chấp nhận nó miễn cưỡng khi thời điểm đến. Vdu: một đạo luật đánh thuế hay thu phí sẽ không áp dụng bây giờ mà áp dụng sau đó từ 6 tháng đến 1 năm.
5 / NÓI VỚI CÔNG CHÚNG NHƯ NÓI VỚI TRẺ EM CÒN ÍT TUỔI
Hầu hết các quảng cáo nhằm vào công chúng sử dụng một diễn ngôn, lý luận, nhân vật ,và phong cách “trẻ con hóa” (infantilizing) , như thể người xem là một đứa trẻ nhỏ tuổi hoặc tâm thần khuyết tật. Chúng ta càng tìm cách đánh lừa người xem thì càng sử dụng một phong cách “trẻ con hóa” . Tại sao? “Nếu người ta nói với một người như nói với một đứa trẻ 12 tuổi, thì do ám thị, người này với một xác xuất lớn sẽ trả lời hoặc phản ứng đang lập luận của một đứa trẻ 12 tuổi. ” (Trích từ ” Vũ khí im lặng cho cuộc chiến thầm lặng”- “Armes silencieuses pour guerres tranquilles”)
6/ KÊU GỌI TÌNH CẢM HƠN LÀ LÝ TRÍ
Kêu gọi tình cảm là một kỹ thuật cổ điển khiến người ta bỏ qua các phân tích lý tính hay các lý luận phê bình. Ngoài ra, việc sử dụng ngôn ngữ cảm xúc mở cánh cửa cho vô thức để đưa vào các ý tưởng, ham muốn, sợ hãi, xung động, hoặc hành vi …
7 / DUY TRÌ CÔNG CHÚNG TRONG TÌNH TRẠNG NGU ĐỘN
Làm sao để công chúng không có khả năng hiểu biết về kỹ thuật và các phương pháp được sử dụng để kiểm soát và nô lệ họ. “Chất lượng giáo dục cho các tầng lớp thấp kém hơn phải là kém nhất, do đó hố sâu ngăn cách dốt nát cách biệt giữa tầng lớp thấp với tầng lớp thượng lưu luôn tồn tại và mãi khó hiểu đối với tầng lớp thấp hơn.”(Trích từ ” Vũ khí im lặng cho cuộc chiến thầm lặng”- “Armes silencieuses pour guerres tranquilles”)
8/ KHUYẾN KHÍCH CÔNG CHÚNG THỎA MÃN TRONG TRẠNG THÁI TỒI TỆ
Khuyến khích công chúng cảm thấy “thú vị” (cool) đối với những thứ tồi tệ, tầm thường, vô học
9 / THAY THẾ SỰ PHẢN KHÁNG BẰNG CẢM GIÁC TỘI LỖI
Làm các cá nhân tin rằng duy nhất mình chịu trách nhiệm cho sự bất hạnh của mình, vì thiếu thông minh, khả năng, hay nỗ lực. Vì vậy, thay vì nổi loạn chống lại hệ thống kinh tế, cá nhân tự phá giá và cảm thấy tội lỗi, tạo ra trầm cảm, điều này gây nến tình trạng suy sụp mà một hiệu quả là sự ức chế hành động. Và không có hành động, không có phản kháng! …
10 / BIẾT TỪNG CÁ NHÂN TỐT HƠN SO VỚI HỌ BIẾT MÌNH
Trong 50 năm qua, những tiến bộ nhanh chóng trong khoa học đã tạo ra một hố ngăn cách ngày càng tăng giữa kiến thức công chúng và kiến thức do tầng lớp tinh hoa cầm quyền nắm giữ và sở hữu. Nhờ vào tiến bộ cách ngành sinh học, sinh học thần kinh và tâm lý học ứng dụng, “hệ thống” đã đạt được kiến thức tiên tiến về con người, cả về thể chất và tâm lý. Hệ thống đã hiểu một các nhân bình thường hơn là họ hiểu bản thân mình. Điều này có nghĩa rằng trong nhiều trường hợp, hệ thống có quyền kiểm soát và nhiều quyền lực với cá nhân hơn so với cá nhân đối với chính họ.
_____________________________
Tác giả: Noam Chomsky
Dịch giả: Đào Trung Thành

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013

Sống có hoài bão

Trong cuộc sống, rất nhiều người không biết  đâu là mục tiêu cũng như chẳng biết bản thân mình mơ ước gì, bởi vậy họ không vạch ra được kế hoạch rõ ràng cho cuộc đời, chỉ sống cho qua ngày đoạn tháng. Người có thái độ sống như vậy thì nếu nói đến hai chữ thành công hay hấp dẫn thì thật là khó.
Chúng ta vẫn thường nhìn thấy, hay đọc ở đâu đó về những thanh niên, tuổi còn trẻ, sức còn trẻ nhưng dường như sống không có mục đích, không có phương hướng, học hành bê tha, chơi bời sa đọa không biết điểm dừng của mình là ở đâu. Họ đã sống lãng phí rất nhiều thời gian, họ không biết rõ ý nghĩa của những việc mình đang làm, họ giống như những con người bị xô đẩy đi trong dòng người đông đúc, không biết đi đâu về đâu và còn sẽ tiếp tục điều đó cho đến khi chính bản thân họ tỉnh ngộ ra được. nếu có ai đó hỏi họ rằng trong cuộc sống mong ước gì, họ muốn làm gì thì câu trả lời vẫn thật là quá khó vì bản thân chính họ cũng không biết rốt cuộc mình muốn gì và phải làm gì. Họ vẫn chỉ ngồi đó, chờ đợi cơ hội, hi vọng một lúc nào đó cơ hội sẽ đến và thay đổi cuộc đời.
Từ trước đến nay, chưa bao giờ chúng ta thấy một người suốt ngày lười biếng, sống không có phương hướng mà lại có thể thành công được. chỉ có những người sống có mục tiêu và phải nỗ lực khắc phục khó khăn để vươn tới mục tiêu thì mới có cơ hội chạm tay đến thành công.
Mọi người ai cũng phải đề ra những yêu cầu nghiêm khắc với bản thân, không được cho phép mình mỗi buổi sáng đều có thể lười biếng ngủ nướng trên giường, ngủ đến khi nào muốn dậy thì dậy. Cũng không nên dễ dãi với bản thân cho phép mình chỉ làm việc học tập khi tâm trạng thoải mái, khi thích thì mới làm, việc gì có hứng thú thì mới mó tay. Cho dù bạn có muốn ngủ thêm cũng phải cố gắng dậy để đi học hoặc đi làm đúng giờ, ngay cả khi không phải đi học vào buổi sáng hoặc được nghỉ hè, cũng không nên cho phép muốn ngủ đến khi nào thì ngủ. chúng ta phải học được cách tự chế ngự và điều tiết tâm trạng của mình, dù bản thân đang ở tâm trạng thế nào, thoải mái hay bực bội cũng phải cố gắng hoàn thành những việc mình phải làm và nên làm.
Nhiều người không muốn làm những việc vất vả, không chịu bỏ sức mình ra, không muốn cố gắng với những công việc cần nỗ lực phấn đấu. điều họ hi vọng chỉ là sống một cuộc sống nhà tản, bình thường và ra sức tận hưởng những gì mình đang có. Họ cho rằng tại sao phải nhọc công đối mặt với thử thách, cố gắng phấn đấu, đổ mồ hôi sôi nước mắt để đạt được cái gì đó xa xôi; tại sao không hưởng thụ cuộc sống và hài lòng với những gì mình đang có?! Vẫn biết muốn vươn lên được thì chúng ta phải có nền tảng, nó bắt nguồn từ trong quá khứ và tiếp diễn đến hiện tại, cần hài lòng vói những gì đang có chứ không phải luôn luôn trong tâm trạng bất mãn với cuộc sống, nhưng bên cạnh đó hoài bão là một thứ không thể lãng quên. Với những người luôn luôn đem lập luận “tại sao” này ra biện hộ cho cách sống của mình, chỉ biết hưởng thụ cái hiện tại mà không phấn đấu cho tương lai, việc rèn luyện ý chí và thói quen sống có mục đích là điều vô cùng cần thiết. bởi mỗi người cần phải hiểu rằng tất cả phụ thuộc vào ước mơ, hoài bão của chúng ta, đó chính là động lực thúc đẩy chúng ta hành động, tiến lên phía trước.
    Có thể bạn ở trong hoàn cảnh khó khăn, bạn oán thán vì bản thân sinh ra trong điều kiện như vậy không tạo cho bạn sức bật để vươn lên. Vậy hãy nhìn ra xung quanh, có rất nhiều người vượt khó để có cuộc sống tốt đẹp, thậm chí có những người trở thành triệu phú, tỷ phú chỉ từ hai bàn tay trắng. và bạn đừng nghĩ rằng, những anh chàng nhà giàu, có điều kiện như là trong mơ luôn là người có được thành công. Số đó có thể nhiều, nhưng số ngược lại cũng không hề ít. Chúng ta đã từng biết nhiều câu chuyện về các chàng công tử, bản thân có đầy đủ các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, thậm chí là quá đầy đủ và ngay cả khi chính bản thân họ cũng muốn có được thành công, nhưng khi hành động thực tế thì anh ta đã chẳng làm được gì như mong đợi. Cái mà anh ta cho mọi người thấy là sự chậm chạp, trì trệ trong tư duy cũng như hành động cụ thể vì thế đã bỏ qua rất nhiều cơ hội tốt đến với mình. Rõ ràng là điều kiện tốt, đầy đủ như thế chưa đủ để một người có được thành công, đó chỉ có thể là một bước đệm có tác dụng nhất định nào đó thôi. Cũng giống như một chiếc đồng hồ đeo tay hàng hiệu, cho dù được chế tác tinh xảo có đến đâu đi chăng nữa nhưng thiếu đi dây cót cũng trở nên vô dụng.
Con người khi còn trẻ, nếu được giáo dục tốt, được sống trong điều kiện đầy đủ về vật chất và tinh thần, bản thân có thể chất khỏe mạnh nhưng chỉ cần thiếu ý chí thôi, mọi điều kiện tốt sẽ trở nên vô nghĩa. Dù có con nhà quan, nhà quyền thế và giàu có đi chăng nữa, nếu một người không có hoài bão lớn trong cuộc đời thì tất cả những điều kiện đó chỉ có thể đem ra hưởng thụ đơn thuần mà thôi.
Thông thường ngay từ khi còn rất nhỏ, mỗi chúng ta đều mang trong mình những hoài bão lớn, chỉ có điều là chúng ta có thực sự chú ý đến nó hay không mà thôi. Nếu những hoài bão ấy được ấp ủ trong lòng suốt bao năm mà không nhận được bất kỳ sự cổ vũ, khích lệ nào, dần dần nó sẽ bị mài mòn đi. Điều này cũng rất bình thường, giống như những đồ vật bị chúng ta cất vào kho, lâu ngày không sử dụng, tất yếu nó sẽ bị hỏng hóc ts nhiều. đây là một quy luật tự nhiên mà chẳng ai có thể thay đổi được. chỉ có những đồ vật thường xuyên được sử dụng và chăm sóc bảo dưỡng lâu dài được. cố gắng tiến lên phía trước – đó chính là tiếng nói từ trong tâm hồn chúng ta, nếu bạn không lắng nghe để thực hiện, thì sẽ chẳng bao lâu sau, tiếng nói ấy sẽ tắt lịm và chẳng bao giờ quay trở lại với bạn nữa. lúc đó, liệu chúng ta sẽ đi về đâu?
Đối với một con người, cho dù sinh ra ở hoàn cảnh nào, cho dù không được trời phú cho những điều kiện sống tốt, chỉ cần luôn giữ vững ý chí phấn đấu, ngọn lửa nhiệt tình vẫn cháy trong người thì người đó nhất định có nhiều hi vọng trong cuộc sống này. Vì thách thức lớn nhất đối với mỗi người trong cuộc đời chính là làm sao giữ vững được lòng nhiệt tình sống, kiên định phấn đấu cho những mục tiêu rõ ràng. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng, ý chí phấn đấu không phải chỉ là sự lạc quan hướng về tương lai đơn thuần, vì điều đó chẳng khác gì bạn ra vẻ rất tự tin nhưng bên trong lại rỗng tuếch. Đó là điều rất đáng lo ngại. ngồi đó mà hi vọng và tự tin hão huyền không giúp bản thân thực hiện lý tưởng và mục đích của bản thân, mà chỉ có bắt tay vào thực hiện, biến suy nghĩ thành hành động mới có thể đưa bạn tới cái đích tốt đẹp.
Nếu như bạn đã ngộ ra và quyết tâm tôi luyện ý chí của mình thì ý chí phấn đấu đó có thể biến thành ý chí sắt đá lúc nào bạn không hay. Chúng ta đã biết khi chưa qua quá trình tôi luyện, ban đầu thép cũng chỉ là một loại sắt bình thường, vừa mềm vừa xốp, khả năng chịu lực kém do đó không được sử dụng nhiều. mặc dù thép chưa được tôi luyện chưa đến mức bỏ đi như phế liệu nhưng thực tế nó cũng không hữu dụng hơn phế liệu là bao nhiêu. Thế nhưng không ai có thể ngờ được rằng, từ loại sắt bình thường như vậy, trải qua quá trình thử lửa khắc nghiệt, cuối cùng lại trở thành loại thép có độ cứng cao, một vật liệu vô dùng hữu dụng trong cuộc sống của chúng ta. Nếu thực sự có tâm hồn, chắc hẳn sắt cũng không hề trách con người đã nồi da nấu thịt mình mà trái lại còn cám ơn vì người ta đã rèn giũa cho sắt trưởng thành, đủ để phát huy vai trò của mình, cống hiến cho những gì thực sự có ý nghĩa trong cuộc sống.


Xã hội nơi chúng ta đang sống chính là một lò luyện với sức nóng gấp nhiều lần so với lò lửa luyện thép, cái sức nóng ấy cho dù không bốc ra thành lửa nhưng có thể khiến gan ruột bạn nóng bừng, thiêu đốt và làm lụi tàn con người bạn. xã hội đó chính là nơi chúng ta được sinh a và đang sống, nhưng nó cũng chính là nơi mà con người phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, trở ngại. nếu bạn hiểu được quá trình tất yếu để luyện sắt thành thép, bạn cũng nên có sự chuẩn bị để tiếp nhận những thách thức mà cuộc sống đưa lại cho bạn. chuẩn bị ở đây không phải là sự chiu đựng mà là một sự tiếp nhận vui vẻ. Bởi sự chấp nhận chỉ có giới hạn, còn chỉ có sự tiếp nhận một cách vui vẻ mới là vô hạn. hãy biến suy nghĩ này trở thành quan niệm ăn sâu bám rễ trong con người bạn. Hơn thế nữa, nó phải được xuất phát từ chính mỗi người, từ sự nhận thức về tiềm năng và khả năng của bản thân. Mỗi tiềm năng phải tự phá được cái vỏ bọc bên ngoài, đồng thời phải trải qua thử thách mới có thể trở thành khả năng được. Có thể nói, bản thân bạn khi chưa trải qua thử thách cũng chỉ giống như loại sắt bình thường mà thôi, vừa rỗng vừa mềm. Dần dần, qua quá trình rèn luyện, trải qua thử thách trong cuộc sống bạn mới cứng cáp lên được.
Thực ra, sự cứng cỏi về mặt thể chất mới chỉ là phần thứ yếu, quan trọng hơn đó chính là sự cứng cáp về mặt ý chí. Nếu chỉ có thể chất cứng cáp, bạn chưa hẳn đã phát huy được vai trò của mình, chỉ có sự cứng cáp về mặt ý chí mới đảm bảo cho bạn phát huy hết khả năng của bản thân. Thành công mà mỗi người đạt được có thể lớn, có thể nhỏ nhưng sự lớn nhỏ này không đơn giản được quyết định bởi tài năng cao thấp khác nhau mà chúng ta vẫn thường nghĩ mà chính bởi ý chí mạnh yếu của mỗi người. người có thể phát huy hết khả năng của mình mới chính là người có tài cao, mà muốn như vậy thì người đó phải có ý chí vững vàng, kiên định. Và để có được ý chí này, chúng ta phải trải qua được thử thách của xã hội, thử thách này có thể nhỏ mà cũng có thể lớn.

Thách thức với mỗi người là một trong những điểm mấu chốt, không thể thiếu được trong cuộc sống. chúng ta cần biết răng, có hai điều kiện quan trọng trong hành động dẫn đến thành công: một là sự kiên định, hai là sự nhẫn nại. Thông thường, người nhận được sự tin cậy của người khác chính là người có ý chí kiên định. Người có ý chí kiên định trong cuộc sống cũng gặp phải khó khăn như bao người khác. Còn người không có ý chí, không có nghị lực thì sẽ thật khó tìm người ủng hộ, mọi người chán phải ở bên cạnh để nghe anh ta ca thán và ủ rũ, như thế thì bất kỳ lúc nào người đó cũng có thể gặp thất bại.
Rất nhiều người suốt cuộc đời vẫn không thành công không phải vì họ không có khả năng mà cái chính là họ thiếu nhiệt huyết, thiếu ý chí. Những người này thường hay làm việc theo kiểu đầu voi đuôi chuột, qua loa đại khái. Họ thường tỏ ra hoài nghi về khả năng thành công của những việc mà họ đang làm, luôn băn khoăn suy nghĩ xem rốt cuộc nên làm việc gì. Có thể có những việc ban đầu họ rất tin tưởng vào thành công của nó, nhưng khi làm được một nửa, họ lại cảm thấy hình như có việc khác hay hơn. Bản thân họ lúc thì hài lòng với hiện tại, lúc thì tỏ ra bất mãn, ý chí không kiên định như thế, không ai dám tin tưởng vào họ vì chính bản thân họ cũng không tin tưởng vào mình. Một con người có ý chí kiên cường, tự nhiên cũng sẽ mang lại cho người khác một sự đảm bảo về lòng tin. Chẳng hạn một người kiến trúc sư làm việc chăm chỉ, không lâu sau cho ra một bản thiết kế tòa nhà. Nếu căn cứ theo đó để thi công, tòa nhà mà chúng ta có thể mắt thấy tay sờ sẽ được hoàn thành theo đúng ý tưởng từ bản thiết kế đó. Nhưng nếu người kiến trúc sư này trong giai đoạn thi công lại tiến hành thay đổi thiết kế, đây sửa một chút, kia sửa một chút, nay thêm cái này, mai bớt cái kia… thì khó có thể xây nên một tòa nhà đẹp theo đúng ý tưởng ban đầu. từ đó chúng ta có thể thấy rằng làm việc gì cũng nên suy nghĩ cho thấu đáo dù cho đó là việc nhỏ, đề ra một kế hoạch hoàn chỉnh sau đó kiên định thực hiện theo kế hoạch đó. Nếu bạn không làm được như vậy, không cố gắng rèn luyện cách làm việc này, những gì bạn xây nên chỉ là những thứ chắp vá chỗ này một một chút, chỗ kia một tý và khó có thể định hình được.


Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

Tinh thần đại học

Xin hân hạnh giới thiệu một cuộc trò chuyện giữa GS Nguyễn Văn Tuấn và phóng viên báo Sinh viên Việt Nam (SVVN) về chủ đề “tinh thần đại học”. Bài này cũng lâu rồi, nhưng nay lấy ra để chia sẻ cùng các bạn quan tâm. Chủ đề xoay quanh ý tưởng tự do học thuật (academic freedom).


Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa công bố dự thảo (sửa đổi) Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Khi bàn đến đề án này, nhiều người xét đến tính tự trị của đại học và tinh thần tự do học thuật của các “thành lũy khoa học”. SVVN có cuộc trò chuyện với GS Nguyễn Văn Tuấn:

SVVN: Thưa ông, theo ông, điều gì làm nên linh hồn và là động lực sáng tạo tri thức của một trường đại học?

NVT: Có nhiều yếu tố liên quan đến sáng tạo, và các chuyên gia xã hội học chia thành hai nhóm yếu tố: nhóm mang tính tổ chức và môi trường, và nhóm mang tính cá nhân. Một môi trường cởi mở với những ý tưởng mới và năng động trong tương tác giữa các nhà khoa học luôn là nơi sáng tạo cao nhất. Ngoài ra, nhà khoa học cần phải được đảm bảo quyền tự do lựa chọn và theo đuổi chủ đề nghiên cứu mà không bị can thiệp hay làm phiền bởi các lực cản hành chính và chính trị. Nói cách khác, đó chính là yếu tố mà giới khoa bảng quen gọi là tự do học thuật. Ngày nay, dù đây đó vẫn còn tranh cãi về phạm vi, nhưng tự do học thuật được xem là giá trị cốt lõi của các đại học tiên tiến, là một trong những thước đo về tiến bộ của một xã hội. 

Để giữ được cái hồn cốt và đảm bảo chất lượng của một đại học, thì nhân tố quyết định là phải làm gì, thưa ông?
(thầy nói giùm em yếu tố tự do học thuật và tự trị đại học, và thầy giải thích các khái niệm giùm em ạ!)

NVT:  Đã có nhiều nghiên cứu về câu hỏi này, mà tôi nghĩ rất khó nói một cách đầy đủ trong một bài phỏng vấn, nhưng tôi có thể tóm tắt trong 6 yếu tố chính (không theo thứ tự quan trọng) như sau:

·        Trình độ và uy danh của giảng viên và giáo sư;
·        Hệ thống thư viện;
·        Nghiên cứu khoa học;
·        Chương trình giảng dạy;
·        Hệ thống hành chính tinh giản; và
·        Cơ sở vật chất.

Chú ý là cả 6 yếu tố đều liên quan đến sự tự chủ và tự do học thuật. Chẳng hạn như một đại học tự chủ sẽ có điều kiện tuyển chọn giảng viên, quyết định mức lương theo thị trường. Tự do học thuật cho phép giảng viên và giáo sư có tự do để thiết kế chương trình giảng dạy và tự do theo đuổi nghiên cứu những đề tài mà họ nghĩ sẽ nâng cao tầm ảnh hưởng của đại học.

SVVN: Dưới góc nhìn của mình, ông giải thích thế nào về việc chất lượng các đại học của ta hiện nay chỉ “nhàng nhàng”?

NVT: Tôi nghĩ có thể giải thích tại sao chất lượng của các đại học Việt Nam (nói chung) còn thấp qua 5 yếu tố trên. Chúng ta biết rằng hiện nay chỉ có khoảng 14% trong số 61672 giảng viên đại học có bằng tiến sĩ, và con số giáo sư/phó giáo sư cũng chỉ chiếm khoảng 5%. Dĩ nhiên, không phải có nhiều giảng viên bằng tiến sĩ hay có nhiều giáo sư là nghiễm nhiên có “chất lượng” cao, nhưng xu hướng chung trên thế giới thì tỉ lệ giảng viên có học vị tiến sĩ được xem là một trong những chỉ tiêu quan trọng về chất lượng giáo dục.

Nói đến thư viện trong các đại học Việt Nam, tôi nghĩ đó là một “câu chuyện buồn”. Có thể nói rằng chưa có một đại học lớn nào ở VN (tôi chưa nói đến các đại học mới) có thư viện đúng chuẩn mực quốc tế. Thiếu thốn rất nhiều, thiếu sách vở cập nhật, thiếu các tập san khoa học quan trọng, và nhất là hệ thống kết nối internet thì quá nghèo nàn. Thư viện là “bộ mặt” của đại học, nhưng bộ mặt của các đại học Việt Nam thì phải nói là chưa được đẹp mấy. Tôi từng ghé qua một vài đại học của Thái Lan, và thấy trường nào cũng cp1 i một hệ thống thư viện tuyệt vời, và hệ thống internet được trải đều khắp đô thị đại học. Một hệ thống như thế chỉ là giấc mơ ở Việt Nam.

Thêm vào đó là chương trình giảng dạy còn lạc hậu, thiếu cập nhật hóa. Có những chương trình giảng dạy có từ thời bao cấp Liên Xô mà vẫn còn sử dụng!  Sinh viên tiêu ra khá nhiều thời gian để học những môn học chính trị và triết học chẳng liên quan gì đến chương trình chính. Phần lớn các giảng viên và giáo sư không nghiên cứu khoa học và rất ít người có những công trình công bố quốc tế. Vì thiếu nghiên cứu khoa học nên bài giảng của họ cũng có rất nhiều hạn chế. Một số bài giảng thật ra là dịch từ sách nước ngoài, nhưng chất lượng dịch cũng chưa đạt.

Hệ thống hành chính ở phần lớn đại học Việt Nam chỉ có thể mô tả bằng hai chữ: kinh dị. Hành chính đáng lẽ phục vụ cho giảng dạy và nghiên cứu, nhưng ở Việt Nam, nó lại có chức năng “hành là chính”. Với một hệ thống hành chính nặng nề, bao cấp, máy móc như hiện nay, chúng ta khó mà hi vọng hệ thống đó sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục đại học.

Cơ sở vật chất của các đại học VN còn rất kém. Đây là “di sản” của nhiều năm chưa được quan tâm đúng mức. Có thể đến một vài đại học lớn để thấy các phòng labô cũ kĩ, trang thiết bị cũng nghèo nàn. Có nhiều chương trình thực nghiệm mà sinh viên phải “học chay”.

Nói tóm lại, trong 6 yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng đại học thì các đại học Việt Nam đều ở vị thế rất bất lợi. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy các đại học Việt Nam sẽ còn rất lâu mới có tên trong các bẳng xếp hạng đại học hàng đầu thế giới.


SVVN: Có ý kiến cho rằng, đại học của ta KHÔNG THỂ phải không phát triển, mà KHÓ phát triển. Ông nghĩ sao?

NVT: Tôi cũng nghĩ như thế: khó phát triển. Khó phát triển là vì các đại học vẫn chưa được tự chủ và chưa có tự do học thuật. Đó là một điều đáng buồn và đáng suy nghĩ. Trong khi các nước trong vùng như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Singapore, v.v. đều có ít nhất một đại học trong danh sách đại học hàng đầu trong vùng Á châu hay trên thế giới, còn Việt Nam thì chưa có một đại học nào có thể “sánh vai” với các đại học hàng đầu trong vùng. 

Chúng ta có thể biện minh rằng là do chiến tranh và cô lập, và có ít thời gian để phát triển. Nhưng tôi e rằng những biện minh đó khó thuyết phục, bởi vì có nhiều đại học trong vùng chỉ cần 20 hay 30 năm là đã trở thành đẳng cấp quốc tế. Nói theo văn hào Dostoievsky, tất cả tuỳ thuộc vào chính chúng ta; chúng ta tự định đoạt số mệnh của mình chứ không nên đổ thừa cho ai.

SVVN: Trong Đề án mới của Bộ GD&ĐT, có đề cập đến chuyện: đảm bảo tự do học thuật nhưng phải theo đường lối XHCN. Ông suy nghĩ gì với tư cách làm một người từng dành cuộc đời mình cho giáo dục đại học?

NVT: Tôi nghĩ có lẽ có sự hiểu lầm hay hiểu khác về tự do học thuật ở đây. Theo tôi hiểu, khái niệm tự do học thuật (academic freedom) chẳng phải là mới, vì nó đã được xiển dương từ thập niên 1950 bên Mĩ. Thời đó, chủ nghĩa McCarthy và những người theo chủ nghĩa này gieo rắc và khủng bố các giáo sư đại học, những người đề cập đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Khái niệm tự do học thuật ra đời để bảo vệ các giáo sư có quyền suy nghĩ, lí giải, và phát biểu những vấn đề và ý tưởng mà không sợ bị trừng phạt bởi các thế lực chính trị và đại học.

Nói cụ thể hơn, tinh thần tự do học thuật áp dụng cho giảng viên và sinh viên. Đối với giảng viên, tự do học thuật có nghĩa là giảng viên có quyền nghiên cứu bất cứ chủ đề nào mà họ quan tâm, có quyền trình bày những kết quả đó cho sinh viên và đồng nghiệp mà không chịu sự đàn áp hay kiểm duyệt của các thế lực chính trị. Đối với sinh viên, tự do học thuật có nghĩa là tự do học các chủ đề mà họ quan tâm và có quyền đi đến kết luận, có quyền phát biểu ý kiến cá nhân của họ liên quan đến chủ đề học. Còn nếu cho rằng tự do học thuật phải theo một định hướng thì tôi nghĩ đó không đúng với tinh thần của tự do học thuật.


SVVN: Có ý kiến cho rằng, Singapore cũng có một thể chế độc đoán, nhưng họ đang thành công với mô hình đại học của mình. Và trong chuyện xây dựng tinh thần đại học, ta có thể học được cái hay từ cách làm của họ? Ông nghĩ sao về ý kiến này? (Mô hình đại học nào mà ông thấy có thể phù hợp với VN?)

NVT: Tôi nghĩ không nhất thiết VN phải học Singapore hay mô hình đại học Singapore. Đứng về mặt tự do học thuật, các đại học Singapore chưa thể là một mô hình để chúng ta phải học theo. Mới đây, một giáo sư về báo chí của một đại học Singapore bị cắt hợp đồng chỉ vì bà chỉ trích tự do báo chí ở Singapore. Ở China, vì thiếu tinh thần tự do học thuật, nên các đại học danh tiếng như Stanford và Columbia không thiết lập chi nhánh ở China.

Theo tôi thấy, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm thành công của những trường đại học mới thành lập và đã nhanh chóng trở thành những đại học hàng đầu thế giới. Tôi muốn nói đến Đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông (HKUST), Đại học Khoa học và Công nghệ Pohang (Pohang University of Science and Technology) của Hàn Quốc, Đại học Quốc gia Singapore, Học viện Công nghệ Monterrey (Monterrey Institute of Technology) của Mexico, v.v. Đó là những đại học chỉ trong thời gian 20-30 năm đã vươn lên và trở thành đại học đẳng cấp thế giới. Cái mẫu số chung của những đại học vừa kể trên là họ tuyển dụng nhiều giáo sư tài giỏi và tuyển mộ sinh viên có học lực tốt;  họ có ngân sách dồi dào; và quan trọng là có lãnh đạo tốt, với tầm nhìn chiến lược.

Nhưng theo tôi thấy Việt Nam sẽ rất khó học áp dụng bài học thành công của họ, vì thể chế tổ chức trong các đại học Việt Nam còn cứng nhắc. Ở ngoài này người ta tuyển lãnh đạo đại học và giáo sư đại học qua quảng cáo khắp thế giới, nhưng ở Việt Nam thì theo cơ chế “qui hoạch” với vai trò quyết định của Đảng thì rất khó thu hút được người tài. Người tài không thích ai định hướng cho mình, và họ đòi hỏi tự do trong suy nghĩ và ngôn luận. Do đó, Việt Nam nói đến học kinh nghiệm ngoài, nhưng nếu đại học không được tự chủ và không có tinh thần tự do học thuật thì việc mô phỏng theo các mô hình đại học khác trên thế giới chẳng có ý nghĩa gì.


SVVN: Đại học là nơi sản sinh và tích dồn tri thức, để làm giàu trực tiếp và gián tiếp cho một quốc gia. Nhưng vai trò này của các đại học ở VN rất mờ nhạt, yếu tố nào để cải cách các đại học hiện nay, thưa ông?

NVT: Tôi nghĩ nói cho công bằng thì các đại học Việt Nam cũng đã có đóng góp cho nền kinh tế và khoa học Việt Nam, nhưng có lẽ gián tiếp nhiều hơn là trực tiếp. Các đại học VN đã đào tạo những chuyên gia cho nền kinh tế, các nhà khoa học, và đó là một đóng góp rất đáng kể.

Nhưng đóng góp trực tiếp của các đại học Việt Nam cho nền kinh tế thì vẫn còn lu mờ. Bằng sáng chế từ các đại học Việt Nam hầu như không đáng kể. Các giáo sư đại học cũng chưa có nhiều sáng chế gì đáng chú ý. Các đại học Việt Nam dĩ nhiên chưa thể ở vị trí thu hút sinh viên nước ngoài để tạo ra hàng tỉ USD cho ngân sách quốc gia như các đại học phương Tây.

Nhưng tôi nghĩ các đại học Việt Nam có thể làm tốt hơn nữa trong việc đóng góp cho nền kinh tế. Làm như thế nào thì lại là một câu hỏi lớn đã chiếm thời gian và tiêu hao công sức của rất nhiều người quan tâm. Tôi nghĩ đến một chiến lược liên kết chiến lược giữa các doanh nghiệp kĩ nghệ và đại học. Cần có những cơ chế để cho những người trong doanh nghiệp kĩ nghệ (có nghiên cứu) tham gia vào việc đào tạo sinh viên, và họ cũng được ghi nhận qua các chức danh học thuật. 

Đối với các ngành nghiên cứu khoa học xã hội tôi nghĩ thách thức còn lớn hơn các ngành khoa học và kĩ thuật. Có nhiều chủ đề mà giới khoa học xã hội quan tâm nhưng có khi được xem là “tế nhị” hay “nhạy cảm” nên đành phải gác lại. Đây cũng là một vấn đề về tự do học thuật.

SVVN: Theo ông, hệ thống đại học của ta hiện nay phải “gỡ” nút thắt nào đầu tiên?

NVT: Thú thật, tôi vẫn nghĩ đến tự chủ và tự do học thuật. Đại học cần phải có quyền tự chủ trong việc quyết định bổ nhiệm giảng viên, giáo sư, quyết định chế độ lương bổng, quyền tuyển sinh, và chủ động trong việc soạn thảo chương trình giảng dạy. Tự do học thuật cần phải được tôn trọng. Một khía cạnh khác của tự do học thuật chính là tự chủ, hiểu theo nghĩa đại học có quyền bổ nhiệm giáo sư, hoạch định chương trình giảng dạy, và theo đuổi nghiên cứu vì lợi ích khoa học và nghệ thuật chứ không vì lợi ích của các nhóm lợi ích và chính trị trong xã hội. Tôi nghĩ không có tự do học thuật thì khoa học xã hội Việt Nam rất khó phát triển.


SVVN: Theo ông, làm thế nào để xây dựng được một tinh thần đại học đúng nghĩa?

NVT: Tôi nghĩ đến mô hình đại học dựa trên tinh thần khai sáng của Immanuel Kant và lí tưởng liberal của Friedrich Schleiermacher.  Đại học không chỉ là trung tâm đào tạo nhân tài, mà còn là một trung tâm khoa học và văn hóa, với tự do học thuật được xem là đặc điểm quan trọng nhất. Không có tự do học thuật, đại học khó mà hoàn tất sứ mệnh phản biện xã hội của mình, và khó có thể đóng góp tích cực cho Nhà nước và xã hội.