Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2012
Kỹ năng chém gió
Mình tán gẫu với một em gái, em gái nói:
- Em sợ rượu bia lắm, uống tí là say.
- …!
- Hồi em đi học lái xe, nể mấy bố đi cùng, buổi trưa uống một cốc bia, say lử.
- Thế em say như thế, thì có bị… ấy không?
- Ấy là sao?
- Ấy là bị…, là bị ấy í!
- Bị hiếp á?
- Không, bị đỏ mặt.
- Ông này ăn nói lấp la lấp lửng, bẫy người, tởm lắm!!!
Nguồn: laothayboigia
Những điều rút ra từ buổi họp công ty ngày 06/10/2012
Những điều rút ra sau cuộc họp công ty ngày 06.10.2012
- Hình dung về Mobile Vietnam càng rõ ràng thì cơ hội thành công càng lớn, nó sẽ diễn ra theo đúng như những gì mình tưởng tượng.
- Thuyết phục Samsung tham gia Mobile Vietnam 2012:
Tin tưởng thành công + nỗ lực đến cùng = thành công.
- Những đầu việc cần chuẩn bị cho Mobile Vietnam:
Tóm đầu việc + phân công người phụ trách rõ ràng.
Cần nắm được tổng thể chương trình sẽ diễn ra như thế nào, sau đó mới đi vào chi tiết công việc.
- Sự đồng thuận, cùng nỗ lực hết mình của từng thành viên vì mục tiêu chung đã đề ra.
- Chia sẻ đam mê. tạo niềm tự hào cho nhân viên về công ty.
Những việc cần chuẩn bị cho Mobile Vietnam 2012:
+ Cần có phong cách ăn mặc riêng, tạo sự sang trọng, lịch sự khi tham dự Hội nghị quốc tế Mobile Vietnam 2012.
+ Luyện Tiếng anh hàng ngày để sử dụng tại Hội nghị - còn 12 ngày.
+ Sắp xếp công việc một cách khoa học ( 4 ô công việc): quan trọng, không quan trọng, cấp bách, không cấp bách.
+ Nỗ lực hết mình trong các công việc được giao.
+ Lên kế hoạch chi tiết cho từng ngày
+ Trau dồi khả năng giao tiếp ứng xử với các kiểu người khác nhau.
+ Tạo được ấn tượng tốt đẹp với các đơn vị mà mình trực tiếp làm việc./
DO IT NOW OR REGRET IT TOMORROW!
CẦN BẮT TAY THỰC HIỆN NGAY.
Sống như thể hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc đời mình!
- Hình dung về Mobile Vietnam càng rõ ràng thì cơ hội thành công càng lớn, nó sẽ diễn ra theo đúng như những gì mình tưởng tượng.
- Thuyết phục Samsung tham gia Mobile Vietnam 2012:
Tin tưởng thành công + nỗ lực đến cùng = thành công.
- Những đầu việc cần chuẩn bị cho Mobile Vietnam:
Tóm đầu việc + phân công người phụ trách rõ ràng.
Cần nắm được tổng thể chương trình sẽ diễn ra như thế nào, sau đó mới đi vào chi tiết công việc.
- Sự đồng thuận, cùng nỗ lực hết mình của từng thành viên vì mục tiêu chung đã đề ra.
- Chia sẻ đam mê. tạo niềm tự hào cho nhân viên về công ty.
Những việc cần chuẩn bị cho Mobile Vietnam 2012:
+ Cần có phong cách ăn mặc riêng, tạo sự sang trọng, lịch sự khi tham dự Hội nghị quốc tế Mobile Vietnam 2012.
+ Luyện Tiếng anh hàng ngày để sử dụng tại Hội nghị - còn 12 ngày.
+ Sắp xếp công việc một cách khoa học ( 4 ô công việc): quan trọng, không quan trọng, cấp bách, không cấp bách.
+ Nỗ lực hết mình trong các công việc được giao.
+ Lên kế hoạch chi tiết cho từng ngày
+ Trau dồi khả năng giao tiếp ứng xử với các kiểu người khác nhau.
+ Tạo được ấn tượng tốt đẹp với các đơn vị mà mình trực tiếp làm việc./
DO IT NOW OR REGRET IT TOMORROW!
CẦN BẮT TAY THỰC HIỆN NGAY.
Sống như thể hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc đời mình!
ĐỊNH HƯỚNG CUỘC ĐỜI - NGÔ QUANG ĐẠO
Từ bây giờ, mình sẽ rèn luyện thói quen viết blog thường xuyên. Đây sẽ là nhật ký online của mình cho tất cả mọi người cùng đọc.
Vật đổi sao dời, mọi thứ thay đổi quá nhanh.
Chuyện tình cảm:
3 năm 3 tháng yêu nhau, cuối cùng nàng cũng dứt bỏ mình để ra đi, tìm kiếm hạnh phúc mới. Yêu nhau thì chỉ có 1 lý do là yêu, còn chia tay thì có muôn vàn lý do. Lý do: anh đi làm thuê, chả biết bao giờ mới kiếm được nhà Hà Nội, em không muốn có một cuộc sống khổ cực, nghèo khó, suốt đời phải đi thuê nhà đã được đưa ra.
Trong tình yêu, khi mà niềm tin tưởng vào nhau đã không còn thì rất khó để tiếp tục.
Bản thân mình sinh ra trong gia đình nghèo khó, tay không gây dựng cơ đồ nhưng mình quyết không chùn bước. Tương lai mà mình tự vẽ ra cho bản thân là một tương sáng, sống trong hạnh phúc và giàu sang. Mình sẽ tạo dựng được một đế chế vĩ đại và sẽ có lá cờ của riêng mình. Mình có một niềm tin mãnh liệt rằng, tương lai đã vẽ ra ở trên chắc chắn sẽ thành hiện thực trước năm 35 tuổi ( 11 năm nữa thôi).
Một câu nói của Bill Gates mà mình luôn luôn ghi nhớ trong lòng:
" Nếu bạn sinh ra trong nghèo khó, đó không phải là lỗi của bạn.
Nhưng nếu bạn chết trong nghèo khó, đó địch thị là lỗi của bạn".
Bản thân mình được sinh ra vào hoàn cảnh nghèo khó hay giàu sang, mình không thể quyết định được. Nhưng cuộc sống giàu sang hay nghèo khó ở cuối đời, đó hoàn toàn do mình quyết định.
MỘT ĐẾ CHẾ VĨ ĐẠI TRONG TƯƠNG LAI ĐANG ĐƯỢC THÀNH HÌNH TỪ NGÀY HÔM NAY.
Định hướng cuộc đời:
- 25 năm đầu đời: dành để học hỏi mọi thứ trong cuộc sống.
Kết hôn: trước 30 tuổi.
- Từ 25 - 50 tuổi: lao mình vào cuộc sống cõi trẫn, hòa nhập hoàn toàn. Thời gian này dùng để chăm lo cho gia đình bé nhỏ và xây dựng sự nghiệp riêng của mình.
Cụ thể:
+ năm 35 tuổi có 1 ngọn cờ của riêng mình.
+ Ngôi nhà mơ ước của riêng mình:
1 tòa biệt thự ở khu đô thị CIPUTRA Hà Nội với đầy đủ các tiện nghi:
4 phòng ngủ: 2 cho gia đình + 1 cho bố mẹ + 1 dành cho khách.
1 bể bơi trong nhà
1 thư việc nhỏ trong nhà,
1 phòng làm việc với khung cảnh lãng mạn, tạo cảm hứng sáng tạo.
1 phòng giải trí: âm nhạc, guitar
1 phòng tập thể dục + võ thuật - Vịnh Xuân Quyền.
- Từ 50-75 tuổi: Dành phần lớn thời gian để làm những việc giúp đỡ cho cộng đồng + chăm lo, tạo phúc cho con cháu.
- Từ 75 - 100 tuổi: toàn bộ thời gian dành cho tâm linh, khai mở các khả năng kỳ bí của con người và chuẩn bị cho cuộc sống tiếp theo của mình sau khi rời khỏi cõi trần.
Định hướng trên sẽ luôn đi theo mình và sẽ được làm chi tiết cụ thể theo thời gian từng tháng, từng năm.
BẠN MUỐN TRỞ THÀNH NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO TRONG TƯƠNG LAI - BẠN SẼ ĐẠT ĐƯỢC NHƯ THẾ.
Đi theo đam mê, con đường của riêng mình để tạo dựng lên một đế chế vĩ đại.
Sức khỏe: có sức khỏe thì mời làm việc và hoàn thành được các mục tiêu đề ra. Mình phải luôn luôn chăm lo cho sức khỏe, không ngừng phát triển bản thân.
Tạm phác thảo thế đã, sẽ bổ sung chi tiết sau.
Vật đổi sao dời, mọi thứ thay đổi quá nhanh.
Chuyện tình cảm:
3 năm 3 tháng yêu nhau, cuối cùng nàng cũng dứt bỏ mình để ra đi, tìm kiếm hạnh phúc mới. Yêu nhau thì chỉ có 1 lý do là yêu, còn chia tay thì có muôn vàn lý do. Lý do: anh đi làm thuê, chả biết bao giờ mới kiếm được nhà Hà Nội, em không muốn có một cuộc sống khổ cực, nghèo khó, suốt đời phải đi thuê nhà đã được đưa ra.
Trong tình yêu, khi mà niềm tin tưởng vào nhau đã không còn thì rất khó để tiếp tục.
Bản thân mình sinh ra trong gia đình nghèo khó, tay không gây dựng cơ đồ nhưng mình quyết không chùn bước. Tương lai mà mình tự vẽ ra cho bản thân là một tương sáng, sống trong hạnh phúc và giàu sang. Mình sẽ tạo dựng được một đế chế vĩ đại và sẽ có lá cờ của riêng mình. Mình có một niềm tin mãnh liệt rằng, tương lai đã vẽ ra ở trên chắc chắn sẽ thành hiện thực trước năm 35 tuổi ( 11 năm nữa thôi).
Một câu nói của Bill Gates mà mình luôn luôn ghi nhớ trong lòng:
" Nếu bạn sinh ra trong nghèo khó, đó không phải là lỗi của bạn.
Nhưng nếu bạn chết trong nghèo khó, đó địch thị là lỗi của bạn".
Bản thân mình được sinh ra vào hoàn cảnh nghèo khó hay giàu sang, mình không thể quyết định được. Nhưng cuộc sống giàu sang hay nghèo khó ở cuối đời, đó hoàn toàn do mình quyết định.
MỘT ĐẾ CHẾ VĨ ĐẠI TRONG TƯƠNG LAI ĐANG ĐƯỢC THÀNH HÌNH TỪ NGÀY HÔM NAY.
Định hướng cuộc đời:
- 25 năm đầu đời: dành để học hỏi mọi thứ trong cuộc sống.
Kết hôn: trước 30 tuổi.
- Từ 25 - 50 tuổi: lao mình vào cuộc sống cõi trẫn, hòa nhập hoàn toàn. Thời gian này dùng để chăm lo cho gia đình bé nhỏ và xây dựng sự nghiệp riêng của mình.
Cụ thể:
+ năm 35 tuổi có 1 ngọn cờ của riêng mình.
+ Ngôi nhà mơ ước của riêng mình:
1 tòa biệt thự ở khu đô thị CIPUTRA Hà Nội với đầy đủ các tiện nghi:
4 phòng ngủ: 2 cho gia đình + 1 cho bố mẹ + 1 dành cho khách.
1 bể bơi trong nhà
1 thư việc nhỏ trong nhà,
1 phòng làm việc với khung cảnh lãng mạn, tạo cảm hứng sáng tạo.
1 phòng giải trí: âm nhạc, guitar
1 phòng tập thể dục + võ thuật - Vịnh Xuân Quyền.
- Từ 50-75 tuổi: Dành phần lớn thời gian để làm những việc giúp đỡ cho cộng đồng + chăm lo, tạo phúc cho con cháu.
- Từ 75 - 100 tuổi: toàn bộ thời gian dành cho tâm linh, khai mở các khả năng kỳ bí của con người và chuẩn bị cho cuộc sống tiếp theo của mình sau khi rời khỏi cõi trần.
Định hướng trên sẽ luôn đi theo mình và sẽ được làm chi tiết cụ thể theo thời gian từng tháng, từng năm.
BẠN MUỐN TRỞ THÀNH NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO TRONG TƯƠNG LAI - BẠN SẼ ĐẠT ĐƯỢC NHƯ THẾ.
Đi theo đam mê, con đường của riêng mình để tạo dựng lên một đế chế vĩ đại.
Sức khỏe: có sức khỏe thì mời làm việc và hoàn thành được các mục tiêu đề ra. Mình phải luôn luôn chăm lo cho sức khỏe, không ngừng phát triển bản thân.
Tạm phác thảo thế đã, sẽ bổ sung chi tiết sau.
Chủ Nhật, 25 tháng 3, 2012
10 điều nội qui dành cho chồng
Điều một vợ gọi phải thưa
Điều hai đi sớm về trưa đừng hòng
Điều ba không được lông bông
Đi làm chăm chỉ nếu không ốm đòn
Điều bốn lo đi đón con
Xong về ghé chợ để còn mua rau
Điều năm không được càu nhàu
Vì phải rửa bát nấu cơm chùi nhà
Điều sáu phải biết matxa
Khi vợ mệt mỏi, chớ la nhiều lời
Điều bảy cấm có chơi bời
Mỗi tháng nộp đủ lương rồi vợ vui
Điều tám không được thóai lui
Khi vợ đòi hỏi chuyện vui đêm về
Điều chín cấm có lô đề
Nhậu nhẹt, say xỉn, ngồi lê nhà người
Điều mười phải biết tươi cười
Khi đi cùng vợ để người người khen.
Mười điều chồng nhớ kỹ nghen
Mỗi lần vi phạm một phen nhừ đòn.
7 BÀI HỌC DẠY VỢ- TÍNH CHẤT HOANG ĐƯỜNG ;))
Bài đầu thước kẻ trong tay
Bắt vợ bước tới, quỳ đây nghe mình
Đi thưa, đứng bẩm, về trình
... Chồng kêu một tiếng, “Thưa mình , em đây”
Bài hai, món nhậu phải rành
Rượu ngon vài hũ, đầy giành bia lon
Sẵn sàng năm bảy món mồi
Cho chồng ngất ngưởng , nằm ngồi ngả nghiêng
Bài ba, thông thuộc phận là
Nấu ăn, rửa chén, quét nhà, lau xe
Làm vườn, cắt cỏ, vú em
Mùa đông xúc tuyết, mùa hè tưới cây
Bài bốn, phải biết bóp dầu
Đấm lưng nhức mỏi, xoa dầu nắn chân
Mát xa(massage), tẩm quất đôi lần
Để chồng vui trọn giấc nồng say sưa
Bài năm, xông xáo bên ngoài
Việc gì cũng nhận chẳng hoài kêu ca
Một Job chẳng đủ tiêu pha
Kiếm thêm Job nữa, hay ba xá gì!
Bài sáu biết cách đứng hầu
Chồng ăn vợ phải đứng chầu khoanh tay
Miếng ngon gắp bỏ luôn tay
Ăn xong phải có trái cây tráng mồm
Bài cuối vừa đánh vừa kèm
Noi gương các bậc tiền nhân lưu truyền
Năm thê, bảy thiếp, sáu phòng
Thêm thê thêm thiếp cho chồng xứng danh.
Học thuyết dạy vợ.
Mình mở phần tin nhắn lưu trữ trong điện thoại, thì gặp một tin nhắn do chính mình soạn và lưu lại trong đó từ hồii xưa, có nội dung:
“Em biet em rat co loi voi chi. Em khong dam doi hoi nhieu, em chi xin chi cho em la mot phan nho cua anh X… la em man nguyen roi. Con vi tri cua chi thi khong bao gio em dam tranh danh. Cung phan dan ba voi nhau, xin chi tha thu!”. (X… là một cái tên cụ thể)
Chắc hẳn nhiều người sẽ thắc mắc tại sao mình lại đặt mình là nhân vật nữ khi soạn tin nhắn? Đầu đuôi câu chuyện thế này:
Chả là dạo mình sắp cưới vợ, có hai thằng bạn tới nhà mình lôi mình đi nhậu, ăn lẩu đêm, lí do là để chia tay đời trai. Hai thằng này vốn đã lấy vợ cách đây bẩy tám năm, bình thường mình với chúng nó xưng hô với nhau tao tao mày mày. Nhưng hôm ấy chúng nó xưng “anh”, gọi mình là “cu”. Thái độ cực kì trưởng thượng! Ngồi quán lẩu vỉa hè, hai thằng này mồm vốn sủa nhanh như súng máy, giờ cùng chĩa vào mình nã:
- Hôm nay bọn anh gọi cu ra đây biết để làm gì không? Là để trang bị cho cu ít học trình, để lấy vợ rồi còn biết đường mà ứng phó với vợ!
- Cu đừng tưởng cu vẽ được mấy cái tranh đã là biết làm nghệ thuật. Nghệ thuật của mọi nghệ thuật phải là nghệ thuật điều trị vợ.
- …
- Cu đừng cãi! Việc mà cu nên làm bây giờ là hứng lời bọn anh, rồi chép vào sổ, rồi vắt tay lên trán mà nghiền ngẫm!
- Riêng về dạy vợ thì kinh nghiệm bọn anh đây ngót nghét mười năm. Kiến văn nhiều như lông...
- Không những thế mỗi thằng bọn anh còn sáng lập một pho bí kíp…
- Như cu, chịu khó chăm chỉ học bọn anh, thì may ra ngoài ba năm cũng có chút bản lĩnh.
- Còn không, thì mạt đời đầu chồng mông vợ, biết chưa!
- …!
Chúng nó xổm chân trên ghế, hất chai rượu cho mình, bảo:
- Rót!
Mình mồm mép vốn chẳng kém, nhưng lần này gặp phải hai thằng cùng lắm mồm hợp công, đâm cãi cũng khó lại! Được thể, chúng nó càng lấn.
Từ đầu buổi tới cuối buổi, câu chuyện trong bàn lẩu xoay quanh phương pháp dạy vợ. Về vấn đề này cả hai thằng đều khoe, mỗi thằng chúng nó chế tạo hẳn một học thuyết dựa trên nền tảng triết học thâm hậu: cương và nhu, khi đưa vào thực tiễn không chỉ dạy thành công một vợ mà dẫu có cả bầy vợ vẫn áp dụng tốt. Nói kĩ về hai học thuyết này thì chả nên, vì nó vừa dài, vừa lắm chi tiết lù mù hoang đường, tổ phí thời gian! Nhưng vắn tắt nội dung có thể hiểu là:
Cái thằng sáng tạo học thuyết Cương nói: trong các giống nòi sinh ra trên toàn vũ trụ thì không có giống nào quái đản, thâm độc và bất trị như giống vợ. Học thuyết cương không phải là dạy đàn ông cách quái đản, thâm độc hơn vợ, mà là chỉ ra cách điểm trúng chỗ hiểm của vợ. Mà yếu huyệt của đàn bà là cực kì mê tín dị đoan, nên đàn ông phải làm sao biến mình thành vị như thần. Được thế thì chỉ cần ra uy, không cần lời, mà vợ vẫn tự giác vào khuôn khổ.
Thằng sáng tạo học thuyết Nhu thì nói vợ đương nhiên là địch, mà "Đối với địch phải cương quyết khôn khéo". Nhưng mặt khác vợ cũng như trẻ con, nên phương pháp giáo dục lại phải có lúc mềm mỏng, tức là bên cạnh cho ăn roi, lại phải vừa thưởng kẹo. Võ công đạt tới thượng thừa thì chồng không khác gì nghệ sỹ dạy thú trong rạp xiếc, tươi cười đấy mà vợ vẫn răm rắp theo hiệu lệnh, nên phương pháp này nhân văn hơn phương pháp làm thần!
Học thuyết gia cương đang vỗ đùi đen đét tán thưởng học thuyết gia nhu, nhưng đến cái câu so sánh này, học thuyết gia cương bặm mặt. Hai thằng nổ trận cãi vã. Những câu đại để như “cứt”, “đồ con bò”, “thằng ngu lâu”… văng tung tóe trên bàn lẩu.
Hai học thuyết gia càng cãi hăng, mình nghe, càng thấy cương nhu lộn tùng phèo, rối rắm, bí dị. Chợt thấy hai chiếc điện thoại của hai thằng vứt lăn lóc trên bàn, mình tiện tay cầm chiếc của học thuyết gia cương lên ngó nghiêng. Lúc mở danh bạ bấm vần “V”, thấy hiện lên trong máy chữ “Vo kinh yeu”. Mình bèn cầm nốt chiếc điện thoại của học thuyết gia nhu, mở ra, thấy danh bạ ghi “Vo la tat ca”.
Ai đọc đến đây, xin nhớ lại cho cái tin nhắn được nói đến ở đầu câu chuyện. Mình soạn tin nhắn ấy nhân khi hai thằng kia đang say máu đấu khẩu. Số của “Vo kinh yeu” và “Vo la tat ca” đã được copy, lưu trong điện thoại mình. Tin nhắn soạn xong, mình liền gửi cho “Vo kinh yeu” và “Vo la tat ca”.
Năm phút…, bảy phút…! Thế rồi đột nhiên điện thoại mình reo, “Vo la tat ca” đang gọi. Mình bước khỏi bàn, tới chỗ một em gái phục vụ quán, chìa điện thoại cho em này, mình nói:
- Em nói “alo” hộ anh vào đây nhé!
Em phục vụ quán nhìn mình tuy hơi ngạc nhiên, nhưng cũng không thắc mắc gì. Em “alo” xong, mình ghé điện thoại lên tai, nghe đầu dây bên kia lặng vài giây, rồi giọng của "Vo la tat ca":
- Cô là ai?
Mình tắt điện thoại, tắt luôn nguồn.
Thành thật, mình không chủ ý chơi ác. Vì số điện thoại của mình trong máy hai thằng kia sờ sờ ra đấy, vợ chúng nó có nghi ngờ, có ba máu sáu cơn thì cũng chỉ một lúc, chứ tra danh bạ máy chồng là sẽ biết mình đùa.
Từ lúc đó tới tận cuối buổi, điện thoại của hai học thuyết gia vẫn im lìm. Khi chia tay, mình vái mỗi thằng một cái:
- Được nghe hai quí mày điểm chỉ, đầu óc tao trước u mê, giờ sáng rỡ ràng như được lắp đèn!
Hai học thuyết gia này làm một cử chỉ phẩy tay, bảo:
- Cu thế là có hiểu biết, như số cu cũng là may lắm, nên hôm nay mới được ngồi nghe bọn anh đạo đàm!
- Mà cu đừng có nghĩ bọn anh cãi nhau, phải hiểu là bọn anh tranh luận! Chân lý được tìm thấy qua tranh luận mới là chân lý xịn, hiểu chưa!
- Dạy vợ theo trường phái nào là tùy cu, nhưng được bọn anh truyền thụ cho một buổi thế này là bằng đọc hàng trăm cuốn bí kíp! Sau này có bị vợ bắt nạt gì, thì cứ tìm bọn anh, bọn anh sẽ chỉ giáo!
Rồi thằng nào về nhà thằng nấy. Khi đó khoảng mười giờ đêm.
Đoạn kết
Một giờ sáng, mình đang ngủ, thì điện thoại rung. Học thuyết gia nhu – chồng của “Vo la tat ca” gọi. Mình bấm nghe, nhưng không trả lời. Đầu dây bên kia, tiếng thằng chồng đang năn nỉ:
- Đây, số thằng Nguyên (tên mình) chứ thằng nào! Em nghe đi!
- Vừa nãy rõ ràng tôi nghe giọng nữ “alo”!
- Em cứ gọi lại mà xem, số thằng Nguyên, anh thề!
- Anh Nguyên à? Có phải anh Nguyên không? Ai đấy? Có thấy ai trả lời đâu?!
- Ông Nguyên ơi, ông trả lời vợ tôi phát đi!, ông Nguyên ơi – giọng thằng này trở nên bi thảm – Tôi lạy ông! Ông chơi kiểu này chết tôi. Tôi bị đứng ngoài đường hai tiếng rồi đấy!
Số phận của học thuyết gia cương - tức chồng của “Vo kinh yeu” thê thảm hơn, điều này sau mình mới biết. Chả là thằng ấy về nhà, vợ nó lôi cái tin nhắn ra tra hỏi. Thằng chồng cũng hiểu ngay có thằng nào đùa, mới cắt số từ máy vợ để nhắn sang máy mình, để so. Nhưng thằng này hoặc ngu tiếng Anh, hoặc rượu biêng biêng,... thành bấm nhầm, xóa cả tin nhắn. “Vo kinh yeu” cho là chồng có vấn đề ám muội, nên cố tình phi tang số, tiện cái chảo, thị nhằm trán chồng phang một chưởng…
Sau vụ ấy đương nhiên mình bị hai thằng này mạt sát xỉ vả cả tháng. Nhưng cái tin nhắn của mình thì không mất. Chuyện loang, nên nhiều thằng bạn mình truyền cho nhau tin nhắn ấy, thỉnh thoảng lại thấy hiện lên trong điện thoại vợ một thằng nào đó. Cũng may, là không có tai nạn đáng tiếc, nhưng để đề phòng, nhiều thằng sửa hẳn tên vợ trong danh bạ.
Mình cưới vợ xong, vài lần điện thoại vợ mình cũng nhận được tin nhắn ấy từ số lạ. Có lẽ cái tin đã chạy lòng vòng nhiều nơi lắm rồi, mà chạy lòng vòng quá, thì rồi người ta cũng chẳng còn nhớ ai là bố đẻ của nó!
nguồn: laothayboigia
Chớ cầm súng dọa linh tinh!
Thỏ đi chơi nhặt được khẩu súng, thích quá cầm súng chạy tung tăng khắp rừng.
Trên đường, gặp Gấu đang trèo cây lấy mật, Thỏ hắng giọng:
- Gấu, xuống bố bảo !
- Ơ, cái d.k.m ! Không xuống !
- Mày thích nát đầu không ! - Thỏ giở súng nhằm vào đầu Gấu.
Nhìn thấy súng Gấu sợ quá tụt vội xuống.
Thỏ sướng quá dọa tiếp:
- Gấu, ngồi xổm vào gốc cây!
- Không, tao không ngồi
- Mày thích không ?! - Tay Thỏ vung vẩy súng
Gấu xanh mặt, ngoan ngoãn ngồi vào gốc cây.
- Gấu, ị điiiiiiiii - Thỏ ra lệnh
- Nhưng ***** buồn ị thì ị thế nào - Gấu mếu máo
- Không ị tao bắn.
Gấu rơm rớm nước mắt, rặn cố được vài cục.
- Gấu, ăn đi
- Không, tao không ăn
Không ăn tao bắn
Gấu không nhịn được nữa, vừa khóc vừa gào lên : Không ăn, không ăn, tao nhất quyết không ăn, mày bắn con mẹ mày đi !
Thỏ bóp cò : Cạch. Súng không có đạn
- Anh Gấu ơi!
- Cái gì?
- Để đấy em ăn cho...!
(lượm lặt)
Trên đường, gặp Gấu đang trèo cây lấy mật, Thỏ hắng giọng:
- Gấu, xuống bố bảo !
- Ơ, cái d.k.m ! Không xuống !
- Mày thích nát đầu không ! - Thỏ giở súng nhằm vào đầu Gấu.
Nhìn thấy súng Gấu sợ quá tụt vội xuống.
Thỏ sướng quá dọa tiếp:
- Gấu, ngồi xổm vào gốc cây!
- Không, tao không ngồi
- Mày thích không ?! - Tay Thỏ vung vẩy súng
Gấu xanh mặt, ngoan ngoãn ngồi vào gốc cây.
- Gấu, ị điiiiiiiii - Thỏ ra lệnh
- Nhưng ***** buồn ị thì ị thế nào - Gấu mếu máo
- Không ị tao bắn.
Gấu rơm rớm nước mắt, rặn cố được vài cục.
- Gấu, ăn đi
- Không, tao không ăn
Không ăn tao bắn
Gấu không nhịn được nữa, vừa khóc vừa gào lên : Không ăn, không ăn, tao nhất quyết không ăn, mày bắn con mẹ mày đi !
Thỏ bóp cò : Cạch. Súng không có đạn
- Anh Gấu ơi!
- Cái gì?
- Để đấy em ăn cho...!
(lượm lặt)
Bói... mông!
.
Thằng đấy học Mỹ thuật công nghiệp cùng y, là dân Hải Phòng. Em với nó là chị em họ. Tuổi em chừng đôi mươi, hiền xinh như Tấm. Còn y năm đó hai mấy nhỉ? Hình như hơn em đôi tuổi.
Dạo đó, y từ Hà Nội xuống nhà thằng bạn chơi, thì gặp em. Em ngọng âm “lờ” thành “nờ”, nhưng lời từ em nghe yêu yêu lạ. Lúc em đi ngang qua y, mùi con gái thơm thơm, nao cả lòng. Thằng bạn y nhìn y, chửi:
- Cái thứ mày đánh hơi như chó.
Rồi bất ngờ nó thụi y, nó tiếp:
- Hàng nhà tao là rau sạch. Cấm mày đến đây diễn cái trò vừa nhả sâu vừa phun thuốc!
.
Ngày hôm sau là ngày nhà thằng bạn y làm giỗ, mẹ nó có việc bận, phải đi vắng, nên gọi em sang làm giúp đồ ăn từ hôm trước. Lúc ấy xâm xẩm chiều, thằng bạn sau mấy chén rượu với y nằm ngủ kho kho trên nhà, chỉ có em ngồi một mình băm nhân nem dưới bếp.
Em quấn nem, y mò đến ngồi, bóc tỏi. Em bảo:
- Tỏi anh bóc kìa, nát bét. Tay họa sỹ mà chả khéo gì cả!
Y vốn vụng, y biết. Mà tại em, ai bảo cái má cứ hồng phinh phính, cái môi mím vẫn như thoảng búp cười. Y nói:
- Những người nào bóc tỏi khéo là vì lắm hoa tay.
Y nhìn em vun nhân nem trong lớp bánh đa, cuộn từng chiếc lẳn đều tăm tắp, y tiếp:
- Còn ai mà quấn được nem thì hoa tay phải nhiều chi chi chít chít.
- Thế mà tay em chả có hoa.
- Chả tin!
- Thật đấy! Đây lày…
Y cầm tay em, xoay lật mấy ngón mũm mĩm hồng au như môi thỏ:
- Em không cần hoa tay, vì hoa mọc trên má. Mà một hoa má bằng mười hoa tay.
Em nhoẻn miệng. Chả hiểu làm sao y lại muốn có đôi viên bi sứ, để lắp cho vừa cái lúm đồng tiền xinh xinh.
Y day lòng tay em, nơi khoảng lồi dưới ngón cái, y bảo:
- Cái gò tay chỗ này này đầy đặn là sau số nhất định giầu.
- Thật á?
- Chứ còn nghi à!
- Thế thì sướng anh nhỉ?
- Cũng chả sướng!
- Tại sao cơ?
- Vì mấy đường chỉ tay ở đây lại vụn! Thì đành rằng giầu, nhưng tình duyên lận đận truân chuyên!...
Mắt em như nai, ưu tư, phân vân.
Xoay xoay lật lật tay em, y tiếp:
- Nếu em muốn tình thôi lận đận, thì phải lấy chồng xa…
- Xa nà đâu ạ?
- Xa là xa!.. Là không phải ở Hải Phòng.
- Thế á?
- Nhưng nếu nói lấy chồng gần, thì cũng gần lắm…
Em nghĩ có vẻ lung, rồi em năn nỉ:
- Anh nói rõ rõ tí đi.
Y hắng giọng, một lúc, y đáp:
- Xa… là… vì em lấy chồng Hà Nội - rồi bâng quơ - Nhưng mà rất gần, là vì sờ sờ ngay trước mắt đấy thôi.
Một chút ngác ngơ, em chợt ngộ. Đôi hoa má he hé nở trên làn da phơn phớt.
- Anh lày! Quá đáng!... Toàn trêu!...
Y mân mê bàn tay hồng au dính tí vụn nhân nem. Em không rụt về.
- Anh bói tiếp đi. Nhưng phải là bói thật nhé… cơ mà anh có biết bói thật không đã?
- Ơ kìa! Hỏi hay nhỉ… Thế nào là vờ với thật?... Này nhé, cái cằm chẻ, là số được chồng yêu… Mà sơn căn cao, ấn đường nở là quí… lưỡng quyền địa cước không nhô, là ích tử vượng phu… Cổ em ba ngấn, đây này, chỗ này này… là đẻ ba con… hai ngấn sâu sâu là con giai, mà ngấn nông nông là con gái, còn cái nốt ruồi… đây này – y đặt tay vào chấm đen nơi khoảng mịn dưới ngấn cổ…
Em, mắt ngời, câu “thật á” điểm sau mỗi lời y phán. Y sờ vành tai em, mân mê, rồi bấm nhẹ thùy châu:
- Ồ, mà em có đại nhĩ pín.
- Đại nhĩ pín?
- Ừ
- Nà gì ạ?
- À, đó là thuật ngữ chuyên ngành, “đại” là to, “nhĩ” là tai, “pín” là như… như… ngẩu pín ý, tức dái tai to… hiểu chưa? Nói "đại nhĩ pín" là cho nhã, mà thế là thọ lắm phúc lắm… là là…
Điện chợt mất, căn bếp trơ nên tối kịt.
Vài giây im lặng.
Thế rồi y cảm thấy thân thể em sát kề, hơi thở em sát kề. Y ôm em, tay y lần tìm... Đâu đó trong bóng tối, em “ơ kìa, ơ kìa” , giọng có phần thảng thốt.
Bất chợt y thấy hơi lạ, vì hình như cằm em gai gai râu.
.
Thằng bạn y từ lúc nãy xuống bếp, nó đứng bên cửa nghe y bói, đến đoạn gay cấn nó tắt điện… rồi mò vào ôm y.
Em vừa xòe bật lửa sáng, tay y đang trong quần thằng bạn, ngay lập tức nó ông ổng kêu như bị hiếp:
- Anh ơi em con nhà lành, anh đừng… đừng như thế…, đừng sờ mông em!
Nguồn:
Thứ Tư, 21 tháng 3, 2012
VÌ SAO NGƯỜI VIỆT KHÔNG THÍCH ĐỌC SÁCH
Xác định khái niệm Đối tượng chúng tôi muốn nói tới trong bài này, không phải là một vài người Việt đặc tuyển, mà là người Việt nhìn bao quát, người Việt nói chung; - Hành động “đọc” không đơn giản là việc ngồi vào bàn, mà là cả văn hóa đọc với cơ cấu phức tạp của nó; - Sự say mê không phải sự bốc đồng lửa rơm chốc lát mà là biểu hiện của một hoạt động tinh thần vững chắc được trí tuệ bảo đảm rồi thăng hoa; Sau nữa, “sách” nói ở đây không phải là một vài tác phẩm văn chương mùi mẫn gây cười hoặc ít ra cũng du dương êm ái dễ đọc dễ bỏ mà bao gồm - nếu không chủ yếu là - cả các công trình nghiên cứu, các loại chuyên khảo, được viết đạt đến những chuẩn mực của tư duy. Xét như thế thì chắc chẳng ai phải còn một chút phân vân gì nữa mà có thể thẳng thắn nói không, khi đối diện với câu hỏi “Người Việt có mê đọc sách ?” Nhưng còn vì sao có hiện tượng đó? Xin tạm nêu ra mấy lý do: - Ở ta không có văn hóa làm sách; các hoạt động xuất bản trước kia gần như chưa có. - Con người nặng về tình mà nhẹ về lý, thường thích sống trong đám đông hơn là đơn độc với chính mình – tức là thiếu những phẩm chất mà việc đọc sách đòi hỏi. - Xã hội không coi trọng kiến thức, người trí thức không được đánh giá đúng mức. Khi bản thân người làm nghề trí thức cũng đang còn lười đọc sách, thì đông đảo người dân có xa lạ với sách cũng là dễ hiểu. Lấy đâu ra sách mà ham? Có một khái niệm chưa thông dụng lắm, nhưng có lẽ trước sau chúng ta phải dùng tới là văn hóa sách của một dân tộc. Ở nhiều nước, người ta biên soạn cả những bộ Bách khoa toàn thư về sách để ghi nhận mảng văn hóa sách này. Tức là họ thường xuyên tổng kết về công nghệ làm sách ở dân tộc mình: sách bắt đầu có từ thời nào, quan niệm về sách thay đổi ra sao, các dạng tồn tại của sách phong phú tới đâu vv… Giả sử lúc này đây ở ta có ai muốn làm một cuốn sách như thế cũng không biết xoay xỏa thế nào. Tài liệu nghèo nàn, ngay tài liệu lưu trữ tối thiểu cũng không có. Và cái chính là số lượng sách in ra quá thấp, quan niệm về sách của chúng ta thì đơn sơ cổ lỗ. Để làm ra sách cho cả xã hội, các nước cũng đã hình thành nên hoạt động xuất bản và thị trường sách. Ở ta, các ngành này - theo đúng nghĩa của nó - chỉ có từ thế kỷ XX, do sự du nhập từ nước ngoài. Còn trước đó, tất cả ở dạng sơ khai, sách ra đời theo cách thức tự phát, và việc nhân bản hết sức hạn chế, sách gần như chưa biến thành hàng hóa. Một chỉ số nữa, cần tính tới mỗi khi định đánh giá một ngành văn hóa phát triển đến đâu, đó là khả năng của ngành đó trong việc vượt ra biên giới và giao lưu với các hoạt động cùng loại ở nước ngoài. Có lần tôi còn đọc thấy là thời trung đại, giữa Nhật và Trung Hoa có cả một con đường sách, tương tự như con đường tơ lụa nối Trung Hoa với thế giới A rập. Trong khi đó thì đọc lịch sử ta, chỉ thấy nói là những ông quan đi sứ mang về vài quyển sách loại ngẫu nhiên được tặng. Sách đã in ra lại còn phải được tổ chức để đưa đến với người cần. Các tập Lịch sử văn hóa Trung Quốc tôi đọc gần đây thường có một phần nói về thư viện, Đường Tống thế này Minh Thanh thế kia. Bảo rằng ở chỗ này các nhà nghiên cứu làm công việc trở về văn hóa VN sẽ không có việc gì để làm cũng không hẳn đã đúng, song như chỗ tôi đọc được, trong một bộ sử cổ như Đại Việt sử ký toàn thư, số lần hai chữ thư viện xuất hiện chưa được một chục. Cho đến đầu thế kỷ XXI, trong hoạt động văn hóa nói chung ở ta, thư viện vẫn là một hoạt động kém cỏi bậc nhất - ở vào một tình trạng suy thoái chứ không chỉ lạc hậu. Những yếu tố trên, khi tổng hợp lại làm thành một hoàn cảnh bất lợi cho văn hóa đọc phát triển. Giá có ai đó bẩm sinh ham đọc sách chăng nữa, cũng không có sách để đọc, có không khí để bàn luận. Xa lạ với lý trí và thói quen nghiên cứu Chữ viết là một chỉ số của văn hóa. Trong xã hội ta, từ ngàn năm nay, tồn tại một tình trạng nước đôi dang dở. Chữ Hán vẫn là công cụ giao tiếp giữa nhà nước và người dân. Các cuộc thi cử sử dụng chữ Hán, sách vở quan trọng (ví dụ lịch sử) viết bằng chữ Hán. Một cách tổng quát, thứ chữ ngoại nhập này lại là công cụ để người ta nghĩ những điều nghiêm chỉnh. Còn chữ Nôm chỉ để ghi cái đời sống tình cảm hàng ngày, hoặc kêu than, hoặc đùa bỡn. Vả chăng chữ Nôm chưa hình thành như một hệ thống chặt chẽ hợp lý. Nó khó học do đó không phổ biến. Tình trạng chữ viết ở Việt Nam như trên níu kéo văn hóa đọc với hai nghĩa: Thứ nhất, ở dạng trực tiếp, nó làm cho sách vở khó viết, viết xong khó xuất bản, xuất bản xong khó đến với người đọc. Thứ hai, ở dạng gián tiếp, nó ảnh hưởng tới tư duy của con người. Với một thứ chữ thuận tiện, người ta có thể ghi chép và hoàn thiện dần những suy nghĩ của mình và giao lưu với nhau làm cho tri thức ngày càng phong phú. Ngược lại, như ở ta, do thiếu phương tiện (chữ và sách) hợp lý để ghi lại những vận động trong đầu óc, sự suy nghĩ của người ta dễ dừng lại ở tình trạng manh mún rời rạc. Gần đây nhiều người đã công nhận là dân ta làm việc gì thường theo lối chụp giật, mà thiếu thói quen nghiên cứu sự vật; sự nghĩ ngợi hay chắp vá nửa vời, đầu óc người ta không chăm chú theo đuổi cái gì tới cùng. Trong một cá nhân cũng như trong một tập thể, hành động được đề cao hơn suy nghĩ. Ta sống tùy tiện dễ dãi, “một bồ cái lý không bằng một tí cái tình”. Tất cả những bệnh trạng đó trong tư duy bắt nguồn một phần từ một văn hóa đọc lom đom, một đời sống tinh thần thiếu sách. Đến lượt mình, kiểu tư duy này lại quay trở lại, cản trở người Việt đọc sách. Đứng ở góc độ tâm lý học cá nhân mà xét, với sự đọc sách, con người phải trưởng thành như một nhân cách. Khi đọc sách, người ta phải có thói quen đơn độc trong suy nghĩ và làm việc. Sự hình thành loại người này đòi hỏi bệ đỡ của một nền văn hóa chắc chắn. Tác động của việc kiếm sống Ca dao tục ngữ truyện cười ở ta thường có thái độ chế giễu với người đọc sách. Dưới những con mắt thế tục, việc đọc sách có vẻ như là một cái gì vô bổ của loại người “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”. Đấy là hình ảnh người đọc sách trong tâm thức dân gian từ thời trung đại tới nay. Cố nhiên trong thực tế, lại có một tình trạng tế nhị khác, là các làng xã thường đánh giá nhau bằng số lượng kẻ cắm đầu vào sách. Có gì mâu thuẫn ở đây chăng? Không. Học trò xưa ham học để có ngày lều chõng đi thi và trở thành quan chức (từ đây khái quát lên người ta vẫn tự hào người Việt ham học). Nhưng không thể bảo họ, - đám người “nghiền” sách cốt đi thi kia - là những người đọc sách với đúng nghĩa của nó. Người học để đi thi tự giới hạn trong kiến thức của người chấm cho họ đỗ. Ngược lại đặc trưng chủ yếu của người đọc sách là một tư duy độc lập và một khao khát bất tận với sự hiểu biết. Loại sau ở xã hội ta quá hiếm, lại còm cõi ít ỏi và chưa thành một lớp người ổn định. Giải thích sao về hiện tượng này? Suy cho cùng ở xã hội nghèo, mọi việc vẫn do miếng cơm manh áo quyết định . Khi có thể dùng sách để lập thân thì người ta đọc sách. Khi có nhiều con đường khác lập thân mà ít tốn sức lực hơn – kể cả lối giả vờ đọc sách, gian lận thi cử - thì người ta bỏ sách khá dễ dàng. Và đó chính là tình trạng của xã hội hôm nay . Tốn công tốn của để đọc mà thu nhập chả hơn là bao so với người không đọc, thì cha bảo con vợ bảo chồng từ giã sách vở, ngồi xem tivi cho nhẹ thân. Sách không còn là nhân tố tất yếu trên đường mưu sinh, và việc đọc sách thường ngả sang một thứ trò chơi, - lý tưởng làm người có vì vậy mà có vẻ bị hạ thấp thì người ta cũng chẳng lấy làm hối tiếc.Một giải pháp lâu dài Mục đích của cuộc hội thảo này là thúc đẩy mọi người mọi tầng lớp công chúng hôm nay đọc sách, tôi tin nhiều sáng kiến rất hay đã được nhiều người đề xuất. Về phần mình, tôi cho rằng cần lùi xa một chút, nhìn rõ một thực trạng kéo dài, nó cũng là tiền đề để có những biện pháp tổng quát hơn có ý nghĩa lâu dài hơn. Vì thế nên có nghiêng nhiều về việc đọc sách của tầng lớp trí thức. Chính họ, theo tôi, là đầu tầu để thúc đẩy một xã hội hợp lý mà chúng ta phải xây dựng, ở đó sách là động lực thúc đẩy mọi tiến bộ, nên sự ham đọc sách không còn bị rẻ rúng . Hồi nhà đạo diễn Nguyễn Đình Nghi còn sống, ông hay nói với tôi về công chúng của sân khấu. Là con trai và người kế nghiệp Thế Lữ, ông Nghi khá thạo sân khấu trước 1945 và trong kháng chiến chống Pháp. Ông bảo, qua sự sa sút của công chúng thời nay, càng thấy công chúng thời trước rất nghiêm chỉnh. Họ đến với sân khấu thiêng liêng như đến với nhà thờ. Và Nguyễn Đình Nghi cắt nghĩa, sở dĩ trước 1945 người đến với sân khấu nói chung khá tốt, mặt bằng khá cao, vì hồi đó, có một lớp công chúng chọn lọc là các trí thức xuất thân từ các nhà trường Pháp - Việt. Họ tạo nên những chuẩn mực trong thưởng thức và lôi cuốn công chúng rộng rãi nói chung. Tình hình đọc sách gần đây cũng có nhiều nét tương tự như bên sân khấu, nên cách giải thích sự sa sút là gần nhau, từ đó cách tổ chức lại công chúng cũng không thể khác. Phải trở lại với cái đúng cái tốt đã có trong quá khứ./. chúng ta
Source: vuongtrinhan.blogspot.com
Source: vuongtrinhan.blogspot.com
Thói hư tật xấu người Việt trong làm ăn buôn bán
Người xưa cảnh tỉnh
đã in trên Thể thao và văn hóa 2005-2007
Các đầu đề nhỏ và chú thích là của người biên soạn
Lời dẫn
Cuối 2011, có tin trong cuộc thi tay nghề quốc tế World Skills 2011 ở Anh, tổ chức ở khu Excell, phía Đông London, Việt Nam không đoạt được huy chương nào mà chỉ đem về 7 chứng chỉ ở các môn Công nghệ may thời trang, Nấu ăn, Lắp cáp mạng thông tin, Điện tử, Xây gạch, Công nghệ thông tin và Thiết kế trang web. Con số quả là rất nhỏ trên tổng số 950 chứng chỉ cấp cho 50 quốc gia tham dự.
Báo Tuổi trẻ cuối tuần, số ra 11-3-2012 có bài của một quan chức của cơ quan phát triển nguồn nhân lực Hàn Quốc. Ông này nhận xét đại ý là lao động Việt thường ít nghĩ đường dài, cố cầy kiếm tiền hơn lo học hỏi để làm ăn lâu dài.
…
Những tin tức loại này ngày càng được đưa ra trên báo chí. Chúng cho thấy điều mà người mình thường tự hào là giỏi giang chăm chỉ cần mẫn khéo tay cần phải xem lại. Nếu không phải là một huyền thoại, nghĩa là một điều ta tự lừa ta, thì đó cũng là một phẩm chất không có gì chắc chắn, người ta rất dễ đánh mất.
Đằng sau cái vẻ bề ngoài cố sống cố chết mang hết năng lực ra kiếm sống, thực ra con người vẫn chỉ dừng lại ở một quan niệm thô thiển về sự làm việc và cuộc sống nói chung.
Dưới đây là những nhận xét tương tự về sự làm ăn buôn bán sản xuất kinh doanh của người Việt từ các bài viết của các trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX, khi chúng ta chuyển mình theo hướng hiện đại hóa lần thứ nhất.
Mấy năm trước chúng tôi đã có dịp sưu tầm và đưa ra rải rác các nhận xét này trên mặt báo, nay dồn cả lại thành một cụm kính trình bạn đọc.
Điều cần nói thêm là từ những kém cỏi trong làm ăn buôn bán, nhiều nét tiêu cực trong cách sống cách nghĩ của người Việt đã được hình thành. Suy nghĩ nông nổi. Lừa lọc dối trá. Mua tranh bán cướp. Làm hàng giả…
Và chúng cũng lan sang cả mối quan hệ giữa người và người giữa cá nhân và xã hội.
Nhìn vào các lĩnh vực khác như học hành thi cử cầu cúng tín ngưỡng, văn hóa giáo dục, quản lý xã hội nói chung …đâu đâu ta cũng thấy đời sống kinh tế lạc hậu đã kéo thấp con người xuống, và đến lượt nó, sự hạn chế trong đời sống tinh thần lại quay lại làm cho sự sản xuất làm ăn không bao giờ phát triển lên được.
Thiếu cái gan làm giàu
Cách đại thương (1) là có gan làm giàu. Coi người ta phí (2) bao nhiêu tiền bạc mà không sợ mất là vì người ta tiên liệu đại lợi (3), kể chi sự phí. Chớ như người bổn quốc ta, muốn cho thấy trước mắt có lợi mới chịu làm.
Nếu đem đại thương mà sánh với bán hàng bông (4) thì bán hàng bông ắt thấy lợi trước mắt, hễ mua sớm mai thì chiều thấy lợi, còn mua chiều sáng thấy; chớ như đại thương thì ít nữa là năm năm còn nhiều hơn là mười năm mới thấy lợi. Song so lợi dễ thấy thì là lợi ít (..) còn lợi mà lâu thấy thì thật lớn lắm.
Người nước nào đều có ngay gian xấu tốt, họ không phải là tiên phật chi hơn mình, song họ làm rồi thì quen, còn người mình không làm, nên cứ nghi hoặc hoài mà thôi.
(1) buôn bán lớn
(2) bỏ tiền của ra sử dụng
(3) tính trước rằng sẽ lãi lớn
(4) Đại Nam quốc âm tự vị ghi nghĩa đen, chỉ hàng hoa quả bông trái ; nhưng ở đây có nghĩa rộng hơn chỉ việc buôn bán cò con, buôn đầu chợ bán cuối chợ.
Lương Dũ Thúc
Nông cổ mín đàm 1901
Không lo xa, dễ thoả mãn
Tôi luận rằng người nước Nam ta khi túng thiếu thì lo lắng thở than, trong lúc đói lo một hồi mà thôi, chớ no không lo nữa.
Người nước của chúng ta, bởi không từng trải ít thấy rộng ít nghe xa (...) hễ vừa mới động nở nòi ra một thí (1) là đổi tính đổi nết, làm bề làm thế (2), muốn nghỉ mà ăn chơi. Bởi làm sao vậy? Bởi trong trăm người mới có một thì là trong một xóm ở chừng một trăm, người ấy đã đặng trên mấy bợm (3) khác. Có bạc chục bạc trăm, cho vô cho ra, đã có người thiếu nợ mình rồi; cho nên hết muốn ráng sức nữa. Vì vậy nhiều khi nghèo nàn khổ sở trở lại. Đến lúc nghèo rồi lại than thở trách trời, sanh mình sao mà vận xấu, mới cho khá rồi lại làm cho nghèo, tại trời không thương.
(1) khá giả một tí
(2) làm le, làm dáng, khoe mẽ
(3) bợm đây không có nghĩa xấu mà chỉ có nghĩa bọn khác kẻ khác
Lương Dũ Thúc,
Nông cổ mín đàm, 1902
Ăn xổi ở thì, chưa lo làm đã lo phá
Nước nào cũng có gian giảo, Tây, Nam, Chệt, Chà (1) đều có kẻ tốt người xấu. Song nước ngoài người ta gian khéo xảo lớn, còn nước mình gian vụn xảo vặt. Nói giác thể (2) như một người Chệt kia lãnh của người ta đi buôn, lãnh rồi thì lo làm ra té lời cho nhiều, có gian lận thì lấy trong cái tiền lời ấy, chớ không khi nào đụng tới vốn bao giờ. Họ tính như 1đ00 mà làm lợi ra 0đ30, dầu có gian, chủ có hay, cũng dám nhắm mà cho gian. Còn người nước Nam không phải vậy, cứ gốc đẽo hoài. Chủ ra vốn cho 10đ đã phá tán cho lỗ lã, rồi cứ cái vốn lấy hoài, cứ cái mạch châm hoài. Đụng 0đ50 cũng gian, 0đ30 cũng gian, làm sao mà không háp tiệm (3).
Chuyện gì hồi lãnh coi công việc thì bần hàn ăn mắm muối, vợ rách con đói; chừng lãnh việc rồi, vợ đeo vòng con đeo vàng, chồng giày vợ dép lên xe xuống ngựa, vợ lấy bạc góp chồng lấy bạc góp, chồng trai gái đào đĩ, sắm giường sắm mùng riêng, vợ tùng điệp (4) đem cả kiếng họ (5) đến tiệm mà ăn phá. Ôi tính hay ăn xổi, xài gấp giật gấp, nước mình nay ra đi buôn thì không khác gì mấy đứa con nít tập đi tập chạy.
(1) Chệt (có khi viết Chiệc): người Tàu; Chà: người Mã Lai hoặc Ấn Độ; còn Tây và Nam, tức người phương Tây và người Việt
(2) ví dụ
(3) háp, nghĩa gốc là khô héo, háp tiệm đại ý cũng như sập tiệm
(4) liên tục, dồn dập
(5) Chi họ, dòng họ
Không biết chấn hưng thực nghiệp (1)
Người nước ta xưa nay chia ra bốn nghề sĩ nông công thương... Phàm những kẻ biết đôi chút từ chương là đã vênh vang tự cho mình là kẻ sĩ, không thèm đứng cùng hàng với nông công thương, cho họ là hèn hạ, gọi là dân buôn, dân thợ, dân cùng. Sĩ đã không biết việc nông công thương, mà nông công thương phần nhiều không học hành, không biết nông học là gì, công nghiệp là gì, địa lý là gì. Trăm môn chẳng biết môn nào, thực nghiệp mới không chấn hưng được.
Ở các cửa khẩu thông thương, trăm người không ai không mặc vải Tây, mà vải Tây là lấy bông sợi của ta dệt ra (...) Các nhà buôn học thức nông cạn, người ta mang hàng đến mà mình không biết chở hàng đi (2). Nhà buôn trong nước rất tản mạn, chèn ép lẫn nhau, không có chủ trương nhất định...
(1) thực nghiệp là từ chỉ chung các ngành sản xuất vật chất, bao gồm cả nông nghiệp lẫn công thương nghiệp
(2) chỉ lo nhập khẩu không biết xuất khẩu
Quốc dân độc bản, tài liệu của Đông Kinh nghĩa thục ,1907
Đồng tiền không dùng để sinh lợi
Tiền của tức là máu mỡ của dân. Tôi không nói là không nên yêu tiếc. Nhưng yêu tiếc thì phải bảo vệ nó làm cho nó sinh sôi nẩy nở. Muốn vậy phải có cách để biến nó thành một món to, không phải chỉ một món nhỏ. Như thế mới gọi là yêu tiếc.
Thế nhưng người nước ta yêu tiếc tiền của riêng thì lại chỉ để tiền của cung phụng cho cái mồm cái bụng riêng của mình, chứ không biết đến có việc gì khác, đó là một. Có kẻ lại bới đất đào lỗ để chôn giấu của cải, chỉ sợ người khác biết, chôn lâu đến hỏng nát, đó là hai. Cả hai hạng người này một bên thì xa xỉ, một bên thì keo kiệt, tuy không giống nhau, nhưng đều ngu như nhau.
Phan Bội Châu
Việt Nam quốc sử khảo, 1908
Những người thợ bất đắc dĩ
Tính người mình không biết quý trọng công nghệ, người làm nghề tựa hồ như bất đắc dĩ không học được làm quan chẳng lẽ ngồi khoanh tay chịu chết mới phải xoay ra làm nghề thôi. Mà làm nghề thì không cần gì tinh xảo chỉ cốt bán rẻ tiền được nhiều người mua là hơn. Công nghệ suy nhược lại còn là vì người có học thức không chịu làm, người chịu làm thì lại là người không có học thức, chẳng qua chỉ theo lối cũ nghìn năm xưa chớ không nghĩ được cách thức nào mới.
Ít năm nay, có trường bách công dạy dỗ, có lắm lời tân học cổ động, thì cũng đã tỉnh ngộ ra ít nhiều, và cũng đã có người sinh được nghề khéo, học được nghề mới tranh được lợi buôn bán. Song cái tính khinh đường công nghệ thì vẫn chưa bỏ được. Có người nhờ công nghệ mà nên giàu có, song vẫn tự coi mình là đê tiện, phải mượn cái phấn ông hàn ông bá mới là vẻ vang.
Phan Kế Bính
Việt nam phong tục, 1915
Buôn bán lòng vòng trong phạm vi hẹp
Xét ra việc buôn bán của ta không được thịnh vượng bằng các nước khác cũng bởi nhiều cớ. Dân ta nhát tính, không dám đi xa. Nhiều người cậy có dấn vốn, chỉ ngồi một xó, cái gì cũng chờ người ta mang đến tận nơi, mua tranh bán cướp với nhau, chớ một bước cũng không dám đi đâu cả. Ví dụ có đi chăng nữa, thì chẳng qua Hà Nội xuống Hải Phòng, Sơn Tây; xuôi Nam Định đã cho là xa xôi; ai bần cùng lắm mới lên đến Lao Cai, Yên Bái hoặc vào đến Bình Định, Sài Gòn. Còn chỉ lo những nước độc ma thiêng, hoặc là phong ba bất trắc mà quanh năm chí tối, bán quẩn buôn quanh.
Phàm làm việc gì có phải dễ dàng mỗi chốc mà thành hiệu (1) ngay được đâu. Ta buôn bán động hơi thấy lỗ vốn một chút hoặc hơi vấp váp điều gì thì đã ngã lòng ngay. Hoặc đóng cửa, hoặc xin thôi, làm cho việc có cơ tấn tới mà cũng phải tan không thành nữa.
(1) tức có kết quả
Phan Kế Bính
Việt nam phong tục, 1915
Không có nghề nào đạt tới
trình độ chuyên nghiệp
Phần nhiều người nước ta chỉ nô nức về đường công danh sĩ hoạn, mà coi nghề buôn bán là một nghề khinh thường. Người giàu có cho con đi học mong cho con về sau nhất ra thì làm nên ông nghè ông bảng, chớ nào ai mong cho con mai sau làm nên bác lái này ông lái nọ. Người làm quan trở về thì lấy gió mát trăng thanh, cúc thơm lan tốt, chè chuyên thuốc quấn, đàn ngọt hát hay làm vui thú, chớ nào ai thiết gì ông chủ cửa hàng nọ ông quản lý cửa hiệu kia. Mà đủ bát ăn thì cũng lấy sự thanh nhàn làm thú trên đời, còn việc buôn bán thây mẹ đĩ.
Té ra bao nhiêu ông việc buôn bán phần nhiều ở trong tay người đàn bà và ở trong bọn mấy chú lái thì mong sao mở mang ra to được ?!
Lại như việc chữa bệnh, xưa kia nước ta không biết trọng nghề làm thuốc, thường cho là một nghề nhỏ mọn, không mấy người lưu tâm. Chốn dân gian chỉ những người bất đắc chí trong đường khoa cử mới xoay ra xem sách thuốc để lấy nghề sinh nhai. Phần nhiều là những người thiển học (1), rồi cũng dám lên mặt ông lang đi khắp chợ cùng quê để chữa bệnh cho thiên hạ. Mạch thấy nắm cũng nắm, mà có hiểu thế nào là mạch thực mạch hư; bệnh thấy xem cũng xem, mà có hiểu thế nào là bệnh hàn bệnh nhiệt. Đệm thêm một nắm lá xì xằng cho gói thuốc to, để lấy cho đáng đồng tiền của người ta. Cũng may dân ta phần nhiều còn dại dột, sống chết đổ cho tại số, chớ không thì các ông lang ấy chắc không ăn ngon ngủ yên.
(1) sức học nông cạn
Phan Kế Bính
Việt nam phong tục, 1915
Không chịu học buôn học bán
Nói đến cuộc thương mại nước nhà mà thêm chán. Bất quá trong nước được vài nhà buôn, còn thử đi qua các phố mà xem, chỉ những Chiệc với Chà (1) họ chiếm mất cả. Buôn bán với các nước, lại càng chẳng có ai gọi là tay đại doanh nghiệp.
Vì cớ từ xưa đến nay, đàn ông ở ta chỉ lo học hành thơ phú ngâm nga, hi vọng làm quan, chứ buôn bán cho là mạt nghệ.
Hai nữa là từ xưa không có học làm các sổ sách buôn bán, không có một trường nào dạy buôn bán như ở nước Tàu cũng như các nước bên Âu Mỹ.
Nhẽ thứ ba, ta có buôn chỉ buôn quanh bán quẩn với nhau, không thực thà không đồng tâm, không thạo việc, không biết cách đối đãi với khách mua hàng.
Vả lại bây giờ nước ta không giữ cái chủ nghĩa bế quan nữa, cửa ải đã mở rộng, nhưng mà cuộc thương mại với các nước ở tay ai chứ có ở trong tay mình đâu, mà dẫu có để cho mình cũng vị tất có đủ tài sức mà gánh vác.
(1) người Trung Hoa và người Ấn Độ
Lê Đức Mậu
Bàn về thương nghiệp, Hữu thanh, 1921
Khéo tay mà trí không khôn
Xét ra ở nước Nam ta mới có các nghề mỹ nghệ là thịnh, phàm nghề khéo toàn là các nghề trang sức cả, còn mỹ thuật thì chưa có gì sánh được với các nước;
nhưng ngay trong mỹ nghệ cũng chưa có kỷ luật, chưa có thể thống gì, chưa phân rõ các kiểu cách, các thời đại, các lề lối, các phương pháp;
thợ thuyền phần nhiều là những người vô học, phi quen tay phóng lại lối cũ, thời bắt chước chép của người ngoài, thành ra tay có khéo mà trí không khôn, không biết biến báo mà vẫn giữ được tinh thần cốt cách cũ;
tồn cổ mà khéo ứng dụng về đường sinh hoạt mới, nóí tóm lại là không có trí sáng khởi (1) khôn ngoan, gây ra trong mỗi nghề một cái thể thức trang nghiêm mà đặc biệt.
Cho nên các nhà nghề ta, không thể bằng cả ở cái tay khéo được, cũng phải tập cho có cái trí khôn nưã.
Nay muốn gây lấy cái trí khôn ngoan trong mỹ nghệ, khiến cho có tinh thần có thể thức, thời không gì bằng lập ra một nhà bảo tàng mỹ nghệ, sưu tập lấy những đồ đẹp trong nước, chia ra từng thời đại, bày cho có thống hệ (2), để cho những nhà nghề đến đấy mà xem, mà học cho biết nghề mình duyên cách (3) thế nào, thể cách làm sao, rồi hoặc trông đấy mà giữ lấy cái cốt cách tinh thần cũ, hoặc nhân đấy mà biến đổi dần.
(1) bắt đầu dựng lên
(2) quan hệ của những cái liên tiếp. Cũng nghĩa như hệ thống
(3) duyên ( có khi đọc diên ) ở đây là thủ cựu, cách là đổi mới.Duyên cách : Tình hình cũ và mới
Phạm Quỳnh
Pháp du hành trình nhật ký 1922
Không ai chuyên nhất việc gì
Các nước phú cường, người nào làm việc gì thì chuyên việc ấy. Nhà khoa học lo cả đời phát minh; người làm giàu thì cứ việc làm giàu. Còn nước ta thì không thế. Một người làm năm bảy việc; trong khi làm bàu gánh hát bộ, lại có xuất bản một cuốn tiểu thuyết ái tình, lại có mở một cửa hàng tạp hóa, ít lúc chi đó lại vọt xuống tàu sang Pháp làm chính trị.
Người ngoại quốc thấy vậy, cho rằng chúng ta có lòng ham hố quá, hoặc cho rằng không có đức chuyên nhất, không có tính nhẫn nại.
Tân Việt (*)
Mỗi người một việc – Đông Pháp thời báo, 1928(*)Một bút danh mà Diệp Văn Kỳ và Phan Khôi ký chung trênĐông Pháp thời báo 1928 ( theo Lại Nguyên Ân ). Nghe giọng thì người viết ở đây có lẽ là Diệp Văn Kỳ (?).
Làm hàng bán hàng đều kém
Nước ta khi xưa chỉ có những tiểu công nghệ như quay tơ, dệt vải, dệt lụa, làm chài lưới, làm mắm muối v..v.. chứ không có đại công nghiệp để làm giàu như các nước khác.. Người làm thợ, ai chuyên tập nghề gì thì lập thành phường, như thợ mộc thợ nề thợ rèn thợ đúc đồ gốm v..v.. Phường nào có tục lệ riêng của phường ấy. Những người làm nghề thợ thường là người ít học, quanh năm ngày tháng đi làm thuê làm mướn chỉ được đủ ăn mà thôi.
Người thiên hạ đi buôn nước này bán nước nọ, xuất cảng nhập cảng, kinh doanh những công cuộc to lớn kể hàng ức hàng triệu. Người mình cả đời không đi đến đâu, chỉ quanh quẩn ở trong nước, buôn bán những hàng hoá lặt vặt, thành ra bao nhiêu mối lợi về tay người ngoài (1) mất cả. Thỉnh thoảng có một ít người có mươi lăm chíêc thuyền mành, chở hàng từ xứ nọ đến xứ kia, lưng vốn đọ năm bảy vạn quan tiền, thì đã cho là hạng cự phú.
(1) ám chỉ Hoa kiều, trước 1945 thường gọi là khách, như trong các từ hiệu khách, phố khách …
Trần Trọng Kim
Việt Nam sử lược,1925
Tài trí thua kém
Nghĩ như nước ta, ruộng đất tốt, rừng núi nhiều, các mỏ có, phận đất duyên hải cũng thật dài, vậy mà cuộc kinh tế mỗi ngày mỗi khó, thời là sao?
Nói về tài trí, quốc dân ta thứ nhất đã kém về cơ khí cho nên công nghệ phải thua. Vật xấu mà giá bán đắt hơn thời còn mong gì tiêu thụ cho ngoại quốc (1). Ngay trong bản quốc, vẫn phải cần dùng đồ nước ngoài. Bài trừ ngoại hoá chẳng qua là câu chuyện nói chơi, khó thay sự thực. Như ở Nam Kỳ nhà máy xay gạo của người ngoại quốc thì không sao; người nước ta chỉ có một cái nhà máy xay mà cháy. Ở mặt bể, tàu của người ngoại quốc thời không sao, người nước ta có một cái tàu Bình Chuẩn (2) mà chìm. Nghĩ ra cũng là tài trí thua kém.
Nói về tư bản (3), nguyên người nước ta đã không lấy đâu có được nhiều người có tư bản to ví với người ngoại quốc, mà sự chiêu phần (4) lập hội thời cái bụng ăn ở với nhau kém, cho nên không mấy hội được bền, nghĩ chỗ đó thật đáng buồn, mà có nói lắm cũng vô ích.
(1) tức không thể xuất khẩu.
(2) tàu chở hàng trên biển, trọng tải 600 tấn, do công ty Bạch Thái Bưởi khai trương từ 1919.
(3) của cải vốn liếng
(4) gọi người mua cổ phần
Tản Đà
An Nam tạp chí, 1931
Thời gian phí phạm
cách sống làm điệu làm dáng
Trong tiếng ta có một lời mà người ta hay dùng là cơm vua ngày trời, tỏ ra ý ăn hết chừng nào thì ăn, làm được chừng nào thì làm, không bị hạn chế và thôi thúc chi hết. Lại có thành ngữlàm việc quan là làm việc rồi (1), làm đù đưa đủng đởn.
Phải, phàm kẻ làm việc quan, không bị hạn chế thôi thúc thì tội gì làm đúng đắn làm kịp thời kịp vụ làm chi!
Bởi vậy cho nên ngày xưa chúng ta không có đồng hồ. Chẳng những vì khoa học không có mà không làm được đồng hồ. Mà chính vì cái quan niệm cơm vua ngày trời, và làm việc quan ấy nó choán sẵn trong đầu rồi, không có sự cần, nên không sinh ra khoa học mà không làm đồng hồ được.
Có người đeo cái đồng hồ không chạy. Máy ở trong đã hư hết nhưng mà vì nó đẹp, nên cũng đeo cho có với người ta. Ta chưa nhìn rõ cái giá trị thật của thời gian là thế nào.
Bỏ cái quan niệm cơm vua ngày trời đi, rồi mới dùng được đồng hồ theo như chỗ dùng của nó.
Cũng như bỏ cái căn tính cẩu thả đi, rồi mới dùng được những chữ dân quyền tự do bình đẳng theo ý nghĩa của nó. Hiện nay thì những chữ dân quyền, bình đẳng, tự do ở nước ViệtNam cũng còn như cái đồng hồ của người Việt Nam !
(1) rổi ở đây có nghĩa như trong thành ngữ “ăn không ngồi rồi “. Làm rồi: làm rất nhàn nhã, thế nào cũng được
Phan Khôi
Cái đồng hồ của người Việt Nam , Phụ nữ tân văn,1931
Quan niệm về kinh tế quá cổ lỗ
Tư tưởng kinh tế nước ta phần nhiều bị cái triết học của người đời (1) nó đè nén. Sách Đại học (2) có câu “ Đức là gốc mà của là ngọn “, ông Mạnh tử nói “ nhân nghĩa là đủ, sao cứ nói lợi “. Xưa nay không ai không lấy sự dè sẻn làm chủ nghĩa rất cần, nói đến tài chính không ai không lấy sự “ xem số thu vào để liệu số chi ra “ làm chủ đích. Sự hơn đong kém bán bị khinh rẻ, người mưu lợi bị chê bai …
Bởi đấy nên tư tưởng kinh tế phương đông tản tác mà lộn xộn, tư tưởng kinh tế phương Tây tề chỉnh mà phân minh.
Tư tưởng đã tản tác mà lộn xộn thì kết quả không tiến bộ chút nào; tư tưởng đã tề chỉnh và phân minh thì kết quả lại có phần tiến bộ nhiều lắm.
(1 ) triết học nhân sinh
(2) một trong Tứ thư bốn bộ sách chính của đạo Nho. Ba cuốn kia là Luận ngữ, Trung Dung Mạnh Tử
Nguyễn Xuân Dương
Sự so sánh về tư tưởng kinh tế Đông Tây An Nam tạp chí, 1931
Giữa chủ và thợ không tìm được
hình thức cộng tác thích hợp
Những nhà nông trồng ra cây mía, nấu thành muống đường (1).
Những người làm nên đường cát mà mang đi bán lại là người khác, tức là nhà buôn đường.
Người có tư bản xuất vốn ra và làm chủ rồi rủ dăm ba người trai tráng làm bạn (2), gọi là công –xi, một bên xuất tài (3) một bên xuất lực.
Mãn mùa rồi tính trừ tiền vốn và tiền tổn ra còn lãi bao nhiêu chia thành hai, chủ phần nửa, các bạn phần nửa.
Song ở trong có sự rất xấu là những người chủ thường ăn lấn các bạn. Hạng trai tráng đi làm bạn phần nhiều là ngu dốt không biết gì, chủ tính trời tính đất chi thì tính, họ cứ việc dạ, miễn còn dư đôi ba đồng đem về cho vợ đã là quý rồi.
Thường thấy những công-xi làm đường chủ nhân làm nhà gạch mua đất tư còn các bạn thì khố một vẫn hoàn khố một.
(1)Tạm hiểu là đường sơ chế
(2) một cách gọi những người cộng tác; thực chất là thợ
(3) tài ở đây không phải tài năng, mà là tiền của.
Trích ở bài Nghề làm đường ở Quảng Nam , Quảng Ngãi
Thực nghiệp dân báo, 1923
Những cái gia truyền dần dần mất đi
Xét những thức quà của ta, thật có nhiều thứ ngon, mùi vị rất dồi dào. Là sản phẩm của đồng ruộng của núi sông, những thứ quà ấy là dấu hiệu sự thưởng thức của người mình, vừa tao nhã lại vừa chân thật. Đó là những vật quý mà sự mát đi, nếu xảy đến, sẽ khiến người sành ăn phải ngậm ngùi.
Nhưng người mình tham thanh chuộng lạ đã bắt đầu khinh rẻ những thứ đáng yêu ấy, có cái ngon mà họ đã gần quên mất mùi vị.
Một đằng khác, không ai chịu để ý và hết sức làm cho mỗi ngày một hoàn hảo hơn lên, cải cách cho hợp với thời mới.
Những cái gia truyền dần dần mất đi, những cái khéo léo không còn giữ được …
Thạch Lam
Hà Nội băm sáu phố phường, 1940
Ngủ yên trên danh vọng
Đi với bánh đậu, còn có các thứ bánh khảo, kẹo lạc, kẹo vừng.
Ngày trước, hiệu Ngọc Anh có tiếng khắp kẻ chợ thôn quê; nhưng từ ngày Cự Hương ở tỉnh Đông (1) dồn lên, thì ngôi bá chủ đã thay người.
Trong khi Cự Hương mỗi ngày một tiến bộ trong cách tìm tòi, khiến cho bột bánh được mềm dẻo, nhân đậu được nhuyễn trong, và cách trình bày được sạch sẽ tinh tươm thì Ngọc Anh nằm ngủ trên cái danh vọng cũ của mình, uể oải bán hàng cho khách. Hiệu đó hình như giàu rồi mà lại …
Mà phần nhiều giàu rồi thì không hay cố nữa. Đó là cái tật chung của người mình khiến cho không một công cuộc nào phát đạt được lâu dài, cả từ trong cách buôn bán cho đến những công nghệ khác.
Tài làm bánh của người mình không phải là kém cỏi. Cái thứ bánh dẻo Trung thu của Cự Hương không kém gì bánh của Tàu và các thứ bánh kem của Việt Hưng không thua gì bánh của Tây.
Ta chỉ còn thua cái chí nữa mà thôi; nhưng như thế nghĩa là còn thua nhiều nhiều lắm.
(1) tức vùng Hải Dương
Thạch Lam
Hà Nội băm sáu phố phường,1940
Bôi bác, giả dối, chỉ cầu rẻ
Cái chí của người Việt Nam ta cũng khác: món quà bán thì cứ muốn bán cho rẻ và nhiều, thích thế để xiêu lòng khách còn cái phẩm có tốt hay không, không quan tâm đến. Bát mằn thắn của người mình có đủ cả rau thơm, xá xíu, đôi khi mấy miếng dồi và một phần chia tám quả trứng vịt. Mằn thắn làm rất to bột, nặn xuề xoà để trông càng to hơn, nhưng nhân thì hết sức kín đáo và nhỏ bé vì được một tí thịt chỗ bàng nhạc (2) mua rẻ của các hàng thịt lậu ôi ở ngoại ô, lúc trút hàng bán rẻ. Nước cũng rất nhiều nữa, dềnh lên như ao sau trận mưa, nhưng nhạt ví như nước bèo.
Tất cả chỉ bán có năm xu. Tưởng đắt hàng là phải. Thế mà không. Khó mà lấy nhiều hoa mắt người ta được.
Miễn là thức hàng bán xứng với đồng tiền, đừng lừa dối người mua, của ngon thì người ta ăn đắt rẻ không kỳ quản.
Đó là một sự thực giản dị trong nghề buôn bán mà tiếc thay nhiều nhà buôn người mình không biết đến, làm tồi bán rẻ rồi đánh lừa được người mua thì lấy làm sung sướng.
(2) bạc nhạc, chỉ chỗ thịt dai không có nạc.
Thạch Lam
Hà Nội băm sáu phố phường, 1940
Người làm nghề không ngóc đầu lên được
Đời sống nông nghiệp vẫn ràng buộc sức phát triển của công nghệ, mà những người làm nghề ở Việt Nam phần nhiều là nông dân chỉ coi nghề của mình là một nghề phụ để kiếm thêm chứ không trau dồi cho nó ngày một tinh xảo.
Lại thêm chính những người có nghề muốn giữ nó làm của riêng không muốn truyền dạy cho người ngoài.
Dụng cụ thường thô sơ và y nguyên kiểu xưa.
Tài khéo thường bị mai một. Vật liệu để dùng thì cũng vẫn tìm quanh tại chỗ chứ ít khi phải mua tận nơi xa.
Cách chế tạo cũng chỉ theo phương pháp tổ truyền, không mấy ai chịu thay đổi.
Lương Đức Thiệp
Xã hội Việt nam, 1944
Không biết thích ứng
với xã hội hiện đại
Tất cả các công nghệ cổ truyền đều chỉ có công cụ thô sơ.
Chúng không có nhiều cơ hội để phát triển: thợ thủ công Việt Nam quả thật rất khéo léo và sẽ có thể trở thành những thợ mỹ nghệ tuyệt vời nhưng họ rất thiếu nhìn xa nên không thể nghĩ đến việc đặt công nghiệp của họ trên những cơ sở kinh tế hiện đại.
Họ sống ngày nào hay ngày ấy và chẳng có khả năng gì chống chọi với sự cạnh tranh của các vật dụng hiện đại được sản xuất với số lượng lớn hơn nhiều mà lại được nâng đỡ bởi một thị hiếu vừa dễ dãi vừa thất thường.
Nguyễn Văn Huyên
Văn minh Việt Nam,1944
Source:: vuongtrinhan.blogspot.com
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
