Hiển thị các bài đăng có nhãn English. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn English. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2012

Tiếng Anh bài 2. Sai sót trong so sánh



InEmail
Khi đọc bản thảo của các nghiên cứu sinh Á châu, tôi phát hiện một sai sót rất phổ biến trong những câu văn có nội dung so sánh. Chính tôi trước đây cũng từng phạm phải những sai sót này. Trong tiếng Việt, chúng ta có thể nói “Ông A được xếp hạng cao hơn ông B”, và câu văn đó hoàn toàn đúng. Nhưng trong tiếng Anh thì câu văn đó chưa đủ. Trong tiếng Anh, khi viết về so sánh chúng ta cần để ý đến động từ đi kèm theo đối tượng được so sánh.

Câu văn so sánh thường có chủ thể (subject) và đối tượng so sánh (evaluator). Trong câu trên, ông A là chủ thể, và ông B là đối tượng so sánh.

Sai: Trang ranks Michael Jackson higher than Janet Jackson. (Trong câu này, Janet Jackson là đối tượng so sánh, và câu văn này chưa đầy đủ).

Đúng: Trang ranks Michael Jackson higher than she ranks Janet Jackson. 

1. So sánh phải cụ thể 

Trong tiếng Anh, nhất là tiếng Anh cho khoa học, so sánh phải cụ thể, chứ không nên chung chung. Chẳng hạn như câu sau đây:

The mountains in Vietnam are lower and greener than Cambodia

là so sánh kiểu chung chung vì chúng ta không biết so sánh với cái gì ở Cambodia (tiếng Việt ta thì ok vì có thể nói những rặng núi ở Việt Nam cao hơn và xanh hơn Cambodia nhưng trong tiếng Anh thì không được nói như thế). Câu này nên được sửa lại là:

The mountains in Vietnam are lower and greener than the mountains in Cambodia

Hay “văn hoa” hơn một chút bằng sách sử dụng those:

The mountains in Vietnam are lower and greener than those in Cambodia

2. Có thể bỏ as trong so sánh kép

Cả hai as và than thường được sử dụng trong các câu văn so sánh:

In vietnam, the spread of infectious diseases is as ferocious as, if not more ferocious than, in Europe 

Cấu trúc câu này khá “nặng nề” (nhưng không sai). Chúng ta có thể bỏ as mà câu văn vẫn đúng (chú ý cách dùng dấu phẩy):

In vietnam, the spread of infectious diseases is as ferocious, if not more ferocious, than in Europe 

Nhưng thật ra, câu trên, theo tôi có thể viết gọn gàng hơn:

In vietnam, the spread of infectious diseases is at least as ferocious as in Europe 

3. Comparative và superlative 

Qui luật là thế này: câu văn so sánh (comparative) bao gồm 2 đối tượng, còn cấp so sánh (superlative) thì có nhiều đối tượng. Trong ngôn ngữ nói hàng ngày, chúng ta có thể nói

She was the tallest of the twins 

thì chấp nhận được, nhưng trong văn viết thì câu đó chưa chỉnh. Phải viết:

She was the taller of the twins 

hay tương tự:

I am the oldest of three brothers (chứ không phải I am the older of three brothers).

4. Lạm dụng other 

Câu văn so sánh dưới hình thức tính từ thường có một đối tượng được lấy làm chủ thể để so sánh với các đối tượng khác trong nhóm. Có thể sử dụng other trong câu văn viết, nhưng coi chừng sai! Hãy xem ví dụ sau đây:

Ho Chi Minh City is larger than any city in Vietnam
(Câu này có thể hiểu là thành phố Hồ Chí Minh không thuộc nước Việt Nam!)

Nên sửa lại cho rõ ràng hơn:

Ho Chi Minh City is larger than any other city in Vietnam

Câu sau đây có thể khó hiểu:

Hoang is older than any boy in the class 
(Hoang là nam hay nữ?)

Sửa lại:

Hoang is older than any other boy in the class 

Nhưng câu văn sau đây thì thể hiện sự lạm dùng other:

Hoang is the oldest of all the other boys in the class.
(All ở đây bao gồm Hoang; other thì lại loại bỏ Hoang!)

Do đó, cần sửa lại như sau (bỏ other):

Hoang is the oldest of all the boys in the class.
Nguồn: nguyenvantuan.net

Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự


InEmail
Như đã hứa ngày hôm qua, hôm nay ngày cuối tuần tôi viết bài đầu tiên về tiếng Anh. Bài này liên quan đến việc sử dụng giới từ và liên từ. Có lẽ hơi sơ đẳng, nhưng tôi lại nghĩ cần phải bắt đầu bằng những kiến thức sơ đẳng.


Giới từ (preposition) và liên từ (subordinating conjunction) giông giống nhau và có khi khó phân biệt, nhưng có một mẹo dễ phân biệt chúng: đó là nhìn vào từ theo sau chúng.

1. Giới từ thường theo sau bằng một danh tự (nominal): 

Because of the bad weather. (Danh từ weather là đối tượng của giới từ because of).

Before leaving home. (Đây là mệnh đề gerund: leaving home là đối tượng của giới từ before).

After what we had done. (Mệnh đề danh từ [noun clause] what we had done là đối tượng của giới từ after).

2. Liên từ thì theo sau bằng một cấu trúc chủ ngữ - động từ mà không có một mối liên hệ nào khác dính dáng vào. 

Because the weather was bad. (Because là liên từ có chức năng giới thiệu một mệnh đề phụ).

Before we left home. (Before là liên từ giới thiệu một mệnh đề phụ).

Before, after, since, as, until có thể có chức năng vừa là giới từ vừa là liên từ, tùy vào cái gì theo sau chúng: Since this morning; since you went away.


3. If, when, while, although và một số liên từ khác có thể có cấu trúc chủ ngữ - động từ bị hoán chuyển để có chức năng như là một mệnh đề giới từ. 

When you were mopping the floor
When mopping the floor

If it is at all possible
If at all possible

Although he was very upset
Although very upset

Trong các câu trên “when mopping the floor”, “if at all possible” và “although very upset” là những mệnh đề giới từ, và đều đúng văn phạm.

4. Liên từ nối hai câu văn thường là and, but, or, nor, for, yet. Những liên từ này có thể nối 2 từ, 2 câu văn, thậm chí giới thiệu một câu văn mới: 

He said he would do it. And he did.

She had not planned to attend the meeting. Yet she did.

5. Nối kết câu văn. Khi hai câu văn độc lập nhau, nên sử dụng dấu chấm phẩy. Khi hai câu văn có liên quan nhau, dùng dấu chấm câu: 

We watched his folly develop; in fact, we nurtured it.

Thanh was a fantastically successful scientist. However, he did not emerge from his great career a rich man.

Nhưng dấu phẩy cũng thỉnh thoảng được sử dụng:

She was not pleased by his technique. She was delighted, however, by his self-control.
Nguồn: nguyenvantuan.net

Văn hóa email 1. Cách xưng hô


InEmail
http://www.pctipstricks.com/pictures/Email-Etiquettes.jpgThời đại ngày nay, email là một phương tiện quá có ích. Nhưng có nhiều email mà trong đó người viết rất … buồn cười, và chỉ đọc dòng đầu là người nhận phải nhấn nút “delete”. Lí do là người viết không biết cách viết, không biết mở đầu ra sao, thậm chí không biết xưng hô như thế nào. Trong loạt bài này, tôi không bàn chuyện nội dung email, mà chỉ muốn bàn qua về cách viết, đặc biệt là viết bằng tiếng Anh, sao cho phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
Tôi bắt đầu sử dụng email từ những năm cuối thập niên 1980s. Lúc đó, nhóm IT của Viện bắt đầu có network và ai cũng hào hứng sử dụng email. Lúc đó mà biết sử dụng email là cũng hơi muộn so với bên Mĩ. Trong một bài báo trên tờ New York Times, tôi thấy tác giả kể lại rằng email đã được sử dụng ở Mĩ từ năm 1971, tức là thời gian chiến tranh ác liệt giữa Mĩ và Việt Nam. Chẳng biết hư thực ra sao, nhưng ngày nay thì chắc hàng tỉ người trên thế giới sử dụng email. Có thống kê cho biết nếu thay vì gửi email mỗi ngày người ta gửi thư bằng giấy thì sẽ có 2 triệu cây bị đốn (để làm giấy). Nhìn như vậy để thấy rằng email làm cho thế giới này xanh hơn.
Mỗi ngày tôi nhận được nhiều email. Khoảng một phần ba là email từ Việt Nam hay viết bằng tiếng Việt. Dạo sau này, email rác quảng cáo từ Việt Nam càng ngày càng nhiều. Hệ thống spam của Viện cũng cho những thư này vào thùng rác cũng nhiều, nhưng thỉnh thoảng chúng vẫn đến hộp thư của tôi. Thật là xấu hổ khi một tổ chức về truyền thông quốc tế nói rằng Việt Nam là nước gửi thư rác đứng vào hàng thứ 2 trên thế giới. Nhưng ở đây, tôi không nói đến thư rác, tôi chỉ bàn đến những thư “thật”. Nhiều email từ các bạn đọc Việt Nam, trong và ngoài nước. Đủ thứ loại thư. Thư hỏi thăm. Thư khen. Thư phàn nàn, chỉ trích. Thư nhờ giúp đỡ. Tuy tôi nhấn nút delete rất nhiều cho những email quảng cáo và thư rác, nhưng email của người Việt thì tôi lúc nào cũng cố gắng nhìn qua một vài giây để quyết định có đọc thêm không.
Đọc qua những email từ Việt Nam, tôi phát hiện ra một xu hướng chung: đó là rất nhiều người không biết phép tắt viết email! Vì không biết những qui ước xã hội thông thường trong viết thư và xã giao, nên nhiều thư có thể gây hiểu lầm. Có không ít email mà người gửi không hề xưng tên họ, không có xưng hô, mà cũng chẳng có chữ kí cuối thư. Có email mà cách hành văn như là ra lệnh. Lại có email mang tính đùa cợt dù tôi không hề biết tác giả là ai.  Một đặc điểm chính là hầu như tất cả email từ những địa chỉ công cộng (yahoo, hotmai). Có email cố gắng viết cho tôi bằng tiếng Anh, nhưng rất tiếc là loại tiếng Anh quá khó hiểu, nên chỉ làm tốn thời giờ. Nhưng tôi không trách các bạn đó, bởi vì tôi biết phần lớn họ chưa am hiểu các qui ước giao tiếp xã hội và email mà thôi, chứ chắc không có ý xúc phạm hay mất lịch sự gì. Cố nhiên, tôi cũng biết một số nhỏ cố ý viết một cách mất lịch sự để khiêu khích hay vì lí do nào đó, và những trường hợp này thì tôi không bàn ở đây.
Loạt bài này được soạn ra để chỉ dẫn các bạn cách viết thư và email. “Bạn” ở đây là các bạn sinh viên, nghiên cứu sinh ở trong nước, những người vẫn còn học tiếng Anh để giao tiếp với đồng nghiệp và các bạn ở ngoài. Dĩ nhiên, “bạn” cũng có thể là bất cứ ai muốn học cách viết tiếng Anh (dù họ không dám nói ra là “học” :-) và điều này thì tôi hiểu được). Tôi có cái may mắn là làm reviewer và editor cho nhiều tập san khoa học, nên tôi học được rất nhiều từ người khác, chứ tôi cũng chẳng phải hay ho hơn ai. Có khi đọc một lá thư có câu văn hay, tôi liền ghi lại để mai kia mốt nọ chỉ lại cho người đi sau (hoặc chính tôi dùng). Loạt bài này là thể hiện những trải nghiệm cá nhân đó. Mỗi lượt, tôi sẽ cho các bạn xem một lá thư mẫu mà theo tôi là hay.
Xưng hô trong phần đầu lá thư
Rào trước đón sau như thế tưởng cũng đủ. Viết email để liên lạc những việc liên quan đến học hành hay giúp đỡ là một dạng business communication. Do đó, người viết cần phải cẩn thận về cách viết từ đầu đến cuối. Khi các bạn bắt đầu viết một email, thì vấn đề đầu tiên phải đối đầu với là vấn đề xưng hô (tiếng Anh gọi là salutation). Câu hỏi cụ thể là phải xưng hô với người đối diện như thế nào. Sau đây là vài qui ước chung.
Giả dụ như bạn liên lạc giáo sư John Smith (John là tên, Smith là họ), trong giao tiếp khoa bảng, có vài cách viết chính như sau:
  1. Dear Professor Smith,
  2. Dear Dr Smith:
  3. Dear John,
  4. Dear John Smith:
Nếu bạn chưa biết giáo sư Smith, thì cách tốt nhất là dùng cách xưng hô số 1 hoặc 2. Theo cách xưng hô này, bạn dùng họ chứ không phải tên. Dùng họ trịnh trọng hơn là dùng tên.
Cách xưng hô số 3 chỉ dành cho bạn bè. Nếu bạn quen biết rõ giáo sư John Smith, thì không cần dùng họ mà chỉ dùng tên là đủ (tên ở đây là John).
Cách xưng hô số 4 thỉnh thoảng cũng xuất hiện trong vài năm gần đây, nhưng tôi và rất nhiều người không thích loại xưng hô này. Cách xưng hô này tạo nên một ấn tượng thiếu tính trang trọng và không tôn trọng người được gửi thư.
Nên nhớ là phía sau tên có thể là dấu phẩy, nhưng dấu : cũng có thể chấp nhận được.
Những cách xưng hô dưới đây được xem là không thích hợp và mất lịch sự:
Hi Professor Smith
Chữ Hi là một văn nói, chứ không phải văn viết. Chữ đó cũng không dùng cho một người có danh xưng giáo sư (professor) vì viết như thế là tỏ lòng bất kính với một vị có chức danh khoa bảng thuộc vào hạng cao nhất.
Dear Prof Smith
Thỉnh thoảng tôi vẫn thấy cách viết tắt danh xưng như trên. Nhưng qui ước chung là viết nguyên chữ Professor chứ không phải Prof. Viết Prof Smith gây ấn tượng vô lễ.
Dear Smith
Đây là cách xưng hô mất lịch sự nhất. Không bao giờ dùng họ sau Dear! Phải tìm hiểu danh xưng của ông Smith là gì (chẳng hạn như Mr, Dr, hay Professor). Nếu viết họ thì trước đó phải có một danh xưng (còn viết tên thì không cần).
Ngoài ra, cũng nên cẩn thận phân biệt một số danh xưng trước tên. Nhất là đối với nữ, cần phải phân biệt giữa Mrs, Miss, và Ms. Sau đây là vài ví dụ cụ thể:
Mr       —        nếu là nam (không cần biết có gia đình hay chưa)
Ms       —        dùng cho nữ (không biết tình trạng hôn nhân)
Mrs      —        dùng cho nữ đã có gia đình
Miss     —        dùng cho nữ chưa có gia đình


Xưng hô trong phần cuối lá thư
Đến phần cuối lá thư, thông thường người viết có một vài chữ gọi là final salutation. Cũng tùy theo trường hợp mà viết cho đúng.
(a) Nếu tỏ ra trang trọng:
Yours sincerely,
Yours faithfully,
With kind regards,
With best wishes,
(b) Nếu tỏ ra trung dung, có thể viết:
Best regards,
Kind regards,
Best wishes,
Regards,
Lúc nào cũng kèm theo một dấu phẩy.
(c) Nếu tỏ ra thân mật, không trang trọng:
Cheers,
All the best,
Have a nice weekend and I’ll write when we’re back.

Lá thư mẫu 1
Sau đây là một thư mẫu để các bạn tham khảo. Đây là một lá thư xin làm việc ở lab của Giáo sư Janson một thời gian ngắn.
Subject: Laboratory placement - Prof Shankar’s student
Dear Professor Janson,
My name is Beautiful Surname, I am a PhD student at the University of Heaven. I attended the ACE conference last week and I found your seminar very interesting, the part about the finite element formulation was particularly useful to me.
I saw on your webpage is it possible to have a placement period in your lab. It would be a real pleasure for me to join your research group and do some further research into the formulation of an efficient finite element for the adhesive layer.
My research covers almost exactly the same topics:
1. FE calculations of complex bonded structures
2. Efficient techniques to reduce d.o.f
3. Enhancing adhesive strength
The area where I think I could really add value would be in enhancing adhesive strength. I have attached a paper and some recent results, which I hope you will find both interesting and useful. I believe my approach could work in conjunction with yours and really improve efficiency.
Yours sincerely,
Beautiful Surname
 Nguồn: nguyenvantuan.net

LÀM SAO NÓI TIẾNG ANH NHƯ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI ??!!!

LÀM SAO NGHE ĐƯỢC TIẾNG ANH 

LÀM SAO NGHE ĐƯỢC TIẾNG ANH (và nói chung: MỘT NGOẠI NGỮ)

Một trong những trở ngại lớn nhất của chúng ta khi học một ngoại ngữ ấy là chúng ta quá… thông minh và có quá nhiều kinh nghiệm. 

   Quá thông minh: vì mình không thể nào chấp nhận nghe một câu mà mình không hiểu: cần phải hiểu một câu nói gì trước khi nghe tiếp câu thứ hai, nếu không thì mình không buồn nghe tiếp.

    Quá kinh nghiệm: Cuộc đời đã dạy ta không nghe những gì người khác nói mà chỉ hiểu những gì mà nội dung chuyển tải. Nếu không hiểu nội dung, chúng ta không thể lặp lại lời người kia. Cũng vì thế mà - trong giai đoạn đầu học ngoại ngữ - mỗi lần nghe một câu tiếng Anh thì trong đầu phải dịch ra được tiếng Việt thì mới yên tâm, bằng không thì … câu ấy không có nghĩa.

Thế nhưng, đấy là lối học sinh ngữ ngược chiều. Tôi biết được 6 ngôn ngữ, trong đó có ba ngôn ngữ thành thạo nghe nói đọc viết: Việt - Anh - Pháp, và tôi thấy rằng trong các ngôn ngữ tôi biết thì, một cách khách quan, nghe và nói tiếng Việt là khó nhất (vì ở phương tây, không có ngôn ngữ nào mà mình đổi cao độ của một từ thì ý nghĩa từ ấy lại thay đổi: ma - má - mà - mạ - mã - mả). Nhưng các bạn ở forum này, cũng như tôi, đều không có vấn đề gì cả với cái sinh ngữ khó vào bậc nhất ấy! 

Thế nhưng những thầy cô dạy chúng ta nghe nói tiếng Việt chẳng phải là những vị chuyên viên ngôn ngữ như các thầy ngoại ngữ mà ta học tại các trường. Thầy dạy tiếng Việt chúng ta là tất cả những người quanh ta từ ngày ta ra đời: cha mẹ, anh chị, hàng xóm, bạn bè… nghĩa là đại đa số những người chưa có một giờ sư phạm nào cả, thậm chỉ không có một khái niệm nào về văn phạm tiếng Việt. Thế mà ta nghe tiếng Việt thoải mái và nói như sáo. Còn tiếng Anh thì không thể như thế được. 

Ấy là vì đối với tiếng Việt, chúng ta học theo tiến trình tự nhiên, còn ngoại ngữ thì ta học theo tiến trình phản tự nhiên.

   Từ lúc sinh ra chúng ta đã NGHE mọi người nói tiếng Việt chung quanh (mà chẳng bao giờ ta phản đối: "tôi chẳng hiểu gì cả, đừng nói nữa"! Mới sanh thì biết gì mà hiểu và phản đối!). 
   Sau một thời gian dài từ 9 tháng đến 1 năm, ta mới NÓI những tiếng nói đầu tiên (từng chữ một), mà không hiểu mình nói gì. 
   Vài năm sau vào lớp mẫu giáo mới học ĐỌC, rồi vào lớp 1 (sáu năm sau khi bắt đầu nghe) mới tập VIẾT… Lúc bấy giờ, dù chưa biết viết thì mình đã nghe đưọc tất cả những gì người lớn nói rồi (kể cả điều mình chưa hiểu). Như vậy, tiến trình học tiếng Việt của chúng ta là Nghe - Nói - Đọc - Viết. Giai đoạn dài nhất là nghe và nói, rồi sau đó từ vựng tự thêm vào mà ta không bao giờ bỏ thời gian học từ ngữ. Và ngữ pháp (hay văn phạm) thì đến cấp 2 mới học qua loa, mà khi xong trung học thì ta đã quên hết 90% rồi.

Nhưng tiến trình ta học tiếng Anh (hay bất cứ ngoại ngữ nào) thì hoàn toàn ngược lại. 

Thử nhìn lại xem: 
       Trước tiên là viết một số chữ và chua thêm nghĩa tiếng Việt nếu cần. Và kể từ đó, học càng nhiều từ vựng càng tốt, kế đến là học văn phạm, rồi lấy từ vựng ráp vào cho đúng với văn phạm mà VIẾT thành câu! Rồi loay hoay sửa cho đúng luật! 
      Sau đó thì tập ĐỌC các chữ ấy trúng được chừng nào hay chừng ấy, và nhiều khi lại đọc một âm tiếng Anh bằng một âm tiếng Việt! (ví dụ fire, fight, five, file… đều được đọc là ‘phai’ ).  
      Sau đó mới tới giai đoạn NÓI, mà ‘nói’ đây có nghĩa là Đọc Lớn Tiếng những câu mình viết trong đầu mình, mà không thắc mắc người đối thoại có hiểu 'message' của mình hay không vì mình chỉ lo là nói có sai văn phạm hay không. Lúc bấy giờ mới khám phá rằng những câu mình viết thì ai cũng hiểu, như khi mình nói thì chỉ có mình và … Thượng Đế hiểu thôi, còn người bản xứ (tiếng Anh) thì ‘huh - huh’ dài cổ như cổ cò! 
Thế là học nói bằng cách sửa đổi phát âm những từ nào chưa chuẩn cho đến khi người khác nghe có thể hiểu được.

      Sau thời gian dài thật dài, mình khám phá rằng mình từng biết tiếng Anh, và nói ra thì người khác hiểu tàm tạm, nhưng khi họ nói thì mình không nghe được gì cả (nghĩa là nghe không hiểu gì cả). Lúc bấy giờ mới tập NGHE, và rồi đành bỏ cuộc vì cố gắng mấy cũng không hiểu được những gì người ta nói.

Vấn đề là ở đó: chúng ta đã học tiếng Anh ngược với tiến trình tự nhiên, vì quá thông minh và có quá nhiều kinh nghiệm. Tiến trình ấy là Viết - Đọc - Nói - Nghe! 

Vì thế, muốn nghe và nói tiếng Anh, chuyện đầu tiên là phải quên đi kinh nghiệm và trí thông minh, để trở lại trạng thái ‘sơ sinh và con nít’, và đừng sử dụng quá nhiều chất xám để phân tích, lý luận, dịch thuật!

Và đây là bí quyết để Nghe:

A. Nghe thụ động:

1. - ‘Tắm’ ngôn ngữ. Nghe không cần hiểu: Hãy nghe! Đừng hiểu. 

Bạn chép vào CD một số bài tiếng Anh (vì dụ từ trên forum ETF). Mỗi bài có thể dài từ 1 đến 5 phút. 

Khi nào bạn ở nhà một mình, thì mở các bài đó ra vừa đủ nghe, và cứ lặp đi lặp lại mãi ra rả như âm thanh nền suốt ngày. Bạn không cần để ý đến nó. Bạn cứ làm việc của mình, đánh răng, rửa mặt, học bài làm bài, vào internet… với tiếng lải nhải của bài tiếng Anh. (thậm chí, trong lúc bạn ngủ cũng có thể để cho nó nói). 

Trường hợp bạn có CD player, USB player hay iPod, thì đem theo để mở nghe khi mình có thời gian chết - ví dụ: di chuyển lâu giờ trên xe, đợi ai hay đợi đến phiên mình tại phòng mạch.

     Công việc ‘tắm ngôn ngữ’ này rất quan trọng, vì cho ta nghe đúng với từng âm của một ngôn ngữ lạ. Tai của chúng ta bắt rất nhanh một âm quen, nhưng loại trừ những âm lạ.
      Ví dụ: Nếu bạn nghe câu: ‘mặt trời mọc cánh khi chim voi truy cập chén chó’, một câu hoàn toàn vô nghĩa, nhưng bảo bạn lặp lại thì bạn lặp lại được ngay, vì bạn đã quá quen với các âm ấy. 
    Nhưng khi một người nói một câu bằng chừng ấy âm (nghĩa là 11 âm/vần), trong ngôn ngữ bạn chưa từng học, và bảo bạn lặp lại thì bạn không thể nào lặp lại được, và bảo rằng… không nghe được! (Bạn có điếc đâu! Vấn đề là tai bạn không nhận ra được các âm!) 
     Lối 'tắm ngôn ngữ' đó chỉ là vấn đề làm quen đôi tai, và sau một thời gian (lâu đấy chứ không phải vài ngày) bạn sẽ bắt được các âm của tiếng Anh, và thấy rằng âm ấy rất dễ nghe, nhưng hoàn toàn khác với âm Việt. 
    Đừng nản lòng vì lâu ngày mình vẫn không phân biệt âm: hãy nhớ rằng bạn đã tắm ngôn ngữ tiếng Việt ít ra là 9 tháng liên tục ngày đêm trước khi mở miệng nói được tiếng nói đầu tiên và hiểu được một hai tiếng ngắn của cha mẹ; và sau đó lại tiếp tục 'tắm ngôn ngữ' Việt cho đến 4, 5 năm nữa!

2 - Nghe với hình ảnh động.

Nếu có giờ thì xem một số tin tức bằng tiếng Anh (một điều khuyên tránh: đừng xem chương trình tiếng Anh của các đài Việt Nam, ít ra là giai đoạn đầu, vì xướng ngôn viên Việt Nam, phần lớn, nói rất gần với âm Việt Nam (kể cả pronounciation), nên mình dễ quen nghe, và từ đó lỗ tai mình lại hỏng, về sau lại khó nghe người bản xứ nói tiếng Anh - thế là phải học lại lần thứ hai!). 
     Các hình ảnh đính kèm làm cho ta ‘hiểu’ được ít nhiều nội dung bản tin, mà không cần phải ‘dịch’ từng câu của những gì xướng ngôn viên nói. 
      Bạn sẽ yên tâm hơn, sau khi nghe 15 phút tin tức, tự tóm lược lại, thì thấy rằng mình đã nắm bắt được phần chính yếu của nội dung bản tin. Và đây là cách thứ hai để tắm ngôn ngữ. 

B. Nghe chủ động.

1. Bản tin special english:- Thu một bản tin, và nghe lại rồi chép ra nhiều chừng nào hay chừng nấy… nhớ là đừng tra cứu tự điển hay tìm hiểu nghĩa vội. Đoán nghĩa trong nội dung câu, và nhớ lại âm thanh của từ, hay cụm từ đó, sau này tự nó sẽ rõ nghĩa, nếu trở đi trở lại hoài.

(Ngày xưa, trên đài VOA, sau mỗi chương trình tôi thường nghe một cụm từ tương tự như: statue, statute hay statu gì đó, mà không biết viết thế nào, tuy vẫn hiểu đại loại là: hãy đợi đấy để nghe tiếp. Mãi sau này tôi mới biết rằng thuật ngữ rất quen thuộc ấy là 'stay tuned', nhưng một thời gian dài, chính tả của chữ ấy đối với tôi không thành vấn đề!)

2. Chăm chú nghe lại một số bài mình từng nghe trong giai đoạn ‘tắm ngôn ngữ’

- Lấy lại script của những bài mình từng nghe, đọc lại và nhớ lại trong tưởng tượng lời đọc mà mình từng nghe nhiều lần. 

Sau đó xếp bản script và nghe lại để hiểu. Lần này: tự nhiên mình sẽ nghe rõ từng tiếng và hiểu. Trường hợp không hiểu một từ hay cụm từ, thì gắng lặp lại nhiều lần đúng như mình đã nghe, sau đó lật lại script để so sánh.


3. Một số bài Audio (trong ETF chẳng hạn):
    nghe nhiều lần, trước khi đọc script. Sau đó, đọc lại script, chủ yếu kiểm tra những từ mình đã nghe hoặc đoán, hoặc những từ mà mình có thể phát âm lại nhưng không hiểu viết và nghĩa thế nào. Qua việc này, nhiều khi ta phát hiện rằng một từ mình rất quen thuộc mà từ xưa đến nay mình cứ in trí là phải nói một cách nào đó, thì thực ra cần phải nói khác hẳn và phát âm như thế thì mới mong nghe đúng và nói cho người khác hiểu. Sau đó, xếp bản script và nghe lại một hai lần nữa. (Ví dụ: hai chữ tomb, bury, khi xưa tôi cứ đinh ninh là sẽ phát âm là 'tôm-b(ơ), bơri' - sau này nghe chữ 'tum, beri' tôi chẳng hiểu gì cả - dù cho tôi nghe rõ ràng là tum, beri -cho đến khi xem script thì mới vỡ lẽ!)


4. Học hát tiếng Anh, và hát theo trong khi nghe.


Chọn một số bài hát mà mình thích, tìm lyrics của nó rồi vừa nghe vừa nhìn lyrics.


 Sau đó học thuộc lòng và hát song song với ca sĩ, và gắng phát âm cũng như giữ tốc độ và trường độ cho đúng. Khi nào buồn buồn cũng có thể tự hát cho mình nghe (nếu không có giọng tốt và hát sai giọng một tí cũng không sao, vì chủ yếu là tập phát âm, tốc độ, trường độ và âm điệu tiếng Anh).

Và nói cho đúng giọng (qua hát) cũng là một cách giúp mình sau này nhạy tai hơn khi nghe, vì thường thường ngôn ngữ trong các bài hát khó nghe hơn những câu nói bình thường rất nhiều.

Trước khi tạm dừng topic này, tôi muốn nói thêm một điều.

Có bạn bảo rằng hiện nay mình chưa hiểu, nên cố gắng nghe nhiều cũng vô ích, để mình học thêm, khi nào có nhiều từ vựng để hiểu rồi thì lúc đó sẽ tập nghe sau.

Nghĩ như thế là HOÀN TOÀN SAI. Chính vì bạn chưa hiểu nên mới cần nghe nhiều hơn những người đã hiểu. Muốn biết bơi thì phải nhảy xuống nước, không thể lấy lý do rằng vì mình không thể nổi, nên ở trên bờ học cho hết lý thuyết rồi thì mới nhảy xuống, và sẽ biết bơi! Chưa biết bơi mà xuống nước thì sẽ uống nước và ngộp thở đấy, nhưng phải thông qua uống nước và ngộp thở như thế thì mới hy vọng biết bơi.


Muốn biết bơi, thì phải nhảy xuống nước, và nhảy khi chưa biết bơi. Chính vì chưa biết bơi nên mới cần nhảy xuống nước.

Muốn biết nghe và hiểu tiếng Anh thì phải nghe tiếng Anh, nghe khi chưa hiểu gì cả! Và chính vì chưa hiểu gì nên cần phải nghe nhiều!