Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ năng mềm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ năng mềm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2012

Kĩ năng trình bày 8: 10 cách để khởi đầu một bài nói chuyện


In
Email

Định tạm thời kết thúc loạt bài về kĩ năng trình bày thì tôi thấy một tài liệu giảng dạy cũ khi còn bên Mĩ. Bài này có tựa đề là “10 cách để khởi đầu một bài nói chuyện”. Đọc lại thấy có nhiều điều hay và có thể nói là thú vị, nên tôi viết ra đây để coi như là chia sẻ cùng các bạn.


Những bài nói chuyện hay, hoặc những bài nói chuyện làm cho chúng ta thích thưởng thức, là tùy thuộc vào thái độ của người trình bày. Đó là thái độ thân thiện. Thân thiện hiểu theo nghĩa diễn giả cố gắng liên kết với người nghe, với khán giả. Một trong những cách để đến gần khán giả là “chat”. Vâng, chat với khán giả qua 10 “kĩ thuật” sau đây:

1. nói rõ những gì bạn sắp trình bày và tại sao;
2. nói cho khán giả biết một số dữ liệu về quê hương hay trường của bạn;
3. cung cấp vài con số thống kê thú vị về quê hương hay trường của bạn;
4. cung cấp vài con số thống kê liên quan đến khán giả;
5. cho khán giả một chút tưởng tượng;
6. hỏi khán giả một câu hỏi và yêu cầu họ dơ tay lên;
7. nói một điều gì đó về cá nhân bạn;
8. đề cập đến một vấn đề mang tính thời sự;
9. nói về một sự kiện nào đó mang tính nghịch lí hay phản logic;
10. yêu cầu khán giả làm một cái gì đó.
Không cần phải dùng tất cả 10 kĩ thuật, mà có thể chỉ 1 hay 2 kĩ thuật là đủ. Nếu bạn là người chưa có kinh nghiệm trình bày, thì dùng kĩ thuật 1, 2 và 3. Nếu bạn là người có kinh nghiệm thì dùng kĩ thuật 4–10.
Lúc nào cũng sử dụng ánh mắt. Dù bạn chọn kĩ thuật nào, thì khi bước lên bục giảng (podium) thì nên mỉm cười và nhìn thẳng vào khán giả. Không bao giờ nhìn lên trần nhà hay nhìn xuống sàn nhà, bởi vì thái độ đó cho khán giả cảm nhận rằng diễn giả chẳng nhớ mình nói gì. Thay vì làm như thế, cố gắng nhìn vào slide, hay nhìn vào tờ giấy trước mặt mình. Khán giả thường thích diễn giả tỏ ra tích cực, và vì thế bạn không nên và không bao giờ nói đùa một cách tiêu cực (hay đùa một cách vô duyên) về nơi chốn của hội nghị. Cho dù thành phố có xấu cỡ nào, thì cũng nên tìm một điểm gì hay hay để nói về thành phố. Nếu Sài Gòn là thành phố lụt lội và kẹt xe, thì không bao giờ nhắc đến chuyện đó, mà nên tìm một điểm hay để nói (chẳng hạn như trung tâm ẩm thực Á châu, dòng sông, Bưu điện, v.v.)
1. Nói những gì bạn sắp trình bày
Kinh nghiệm của tôi cho thấy khi tuyên bố ngay từ đầu nội dung mình sắp trình bày là một cách để giữ sự chú ý của khán giả. Slide thứ hai là slide nói về nội dung. Một trong những cách “chuẩn” để nói về nội dung là:
  • giả thuyết mà bạn muốn kiểm định là gì ;
  • tại sao bạn chọn phương pháp đó để kiểm định giả thuyết;
  • bạn sẽ kì vọng đạt được kết quả gì; và
  • kết quả đó ảnh hưởng đến chuyên ngành ra sao.
Bản gốc
Bản sau khi chỉnh sửa
Hello everyone and thank you for coming. First of all I’d like to introduce myself, my name is Thanh Nguyen. As you can see, the title of my presentation is Innovative Methods of Candidate Gene Selection. I work in a small research group at the University of Heaven in Vietnam.We are trying to investigate the best way to select candidate genes for osteoporosis and we hope that our research will be useful not just in the field of bone health but also for chronic diseases in general.

Hello, I am here to talk about a new way to select candidate genes of osteoporosis. I’d like to tell you three things:

First, why I think the current methods for selecting candidates are not effective.

Second, my radical alternative, which is to let the BMA method make the decision.

And third, how trials proved that even against my own expectations this solution reduced costs by 500%. Moreover, it was as effective as traditional methods in more than 90% of cases. .

Cả hai cách nói đều có thể chấp nhận được. Cả hai cách nói đều rõ ràng và logic. Nhưng bản chỉnh sửa có những ưu điểm như:
  • tránh cung cấp thông tin mà khán giả có thể đoán từ tựa đề bài nói chuyện;
  • nói cho khán giả biết ngay những gì họ sắp nghe mà không cần đưa slide tựa đề;
  • nói lên cái thông điệp chính của bài nói chuyện;
  • nói sơ qua về kết quả của nghiên cứu vào thời điểm mà khán giả còn “hăng hái” để nghe, họ không phải chờ đến slide cuối cùng mới biết bạn sẽ nói gì!
2. Nói cho khán giả biết vài dữ liệu về nơi đang làm việc
Khán giả thường muốn học hay có thông tin mới về những đất nước mà họ chưa bao giờ ghé qua. Chẳng hạn như nếu bạn dự hội nghị ở Âu châu hay Mĩ, và bạn đến từ Hà Nội (ví dụ), thì cần phải “khai thác” tính đặc thù của thành phố. Chẳng hạn như nói đó là thành phố có viện đại học đầu tiên gần 1000 năm về trước. Có lẽ người Việt nói đó là “nổ”, nhưng người nước ngoài sẽ rất thích thú khi biết dữ liệu này. Nhưng nên nhớ là chỉ nói về dữ liệu này trong vòng 30 giây mà thôi. Và, cũng nên nhớ rằng dữ liệu mình nói ra phải có liên quan đến đề tài (dù xa hay gần) mình sắp trình bày. Dưới đây là một ví dụ trong bài giảng của một nghiên cứu sinh từ Brazil (Ba Tây):
Bản gốc
Bản sau khi chỉnh sửa
Good afternoon everyone, my name is Cristiane Rocha Andrade and I am a PhD student at the Federal University of Paraná in Brazil. I am here to give you a presentation on some research I have been conducting on allergies to cosmetics and to propose a way to use natural cosmetics.
I come from Brazil. It took me 30 hours to travel the 9189 km to get here, so please pay attention! In Brazil we have two big forests, the Amazonian and the Atlantic with around 56,000 species of plants. More than 90% of these species have not been studied yet. This is why I decided to study natural cosmetics with raw materials from Brazil.

Trong bản chỉnh sửa, cô Cristiane tỏ ra thông minh khi trình bày thông tin một cách dí dỏm làm cho khán giả phải chú ý. Cô Cristiane dùng nhiều số liệu, kể số liệu chính xác về chiều dài giữa thị trấn ở Ba Tây đến thành phố mà hội nghị đang diễn ra. Cô còn nói “khoảng 10,000 km” nhưng điều đó có lẽ chưa gây ấn tượng bằng cách nối kết với mục tiêu nghiên cứu. Đó là một cách mở đầu rất thông minh!
3. Cung cấp vài con số thống kê liên quan đến quê hương mình
Thử tưởng tượng bạn đang nghiên cứu về ảnh hưởng của môi trường đến sản phẩm . Một cách tiêu biểu nhưng không hay mấy là cách nói “Today I am going to present some results on the problem of soil erosion and how it affects food production in my country”. Không có gì sai, nhưng … chán. Bạn có thể bắt đầu bằng một con số ấn tượng: “Ten thousand tons of soil are lost through erosion in my country every year. This means that fertility is lost and desertification ensues.”
Hoặc bạn có thể bắt đầu bằng một câu chuyện cá nhân. Chẳng hạn như có thể nói “Two months ago I went home and saw the devastation caused by the floods [shows picture of floods]. I have an uncle whose land has been almost completely eroded. This means that his crops will fail this year. So why is this a problem? It means that in the world today …”
Một cách khác để bắt đầu bài nói chuyện là nói về đất nước mình: “In my country 30 tons of soil per hectare is lost due to rain every year.” Nhưng vấn đề là 30 tấn thì khó hiểu nó có ý nghĩa gì, nên cách hay hơn nữa là bạn làm một so sánh: “Imagine if this room was filled with soil. Well, after a single rainstorm on a small field in my country, three quarters of the soil would have disappeared.” Trong trường hợp này, bạn cung cấp cho khán giả một con số thống kê mà họ có thể liên đới đến. Con số có thể không hoàn toàn chính xác, nhưng nó đủ để nói đến một vấn nạn, một điều gì đó quan trọng hay rất quan trọng. Nêu bạn nói thêm về hệ quả thì khán giả có thể mà khán giả có thể so sánh với những gì họ biết như câu the equivalent of Iceland would disappear in less than a year thì chắc chắn khán giả khó mà làm lơ bài nói chuyện được!
4. Cung cấp một vài con số thống kê liên quan đến khán giả
Có lần tôi dự một buổi giảng rất thú vị. Diễn giả bước lên bục giảng không bật máy và đi thẳng vào vấn đề rằng sau khi ông xong bài giảng này ở Úc sẽ có 150 người gãy xương và làm tốn nước Úc 150 ngàn đô-la cộng thêm vài sinh mạng sẽ về bên kia thế giới. Nói xong ông ngừng 5 giây và tỏ ra ... buồn bã. Khán giả chưa biết ông sắp nói gì thì màn ảnh hiện ngay slide đầu tiên và thế là ông khởi đầu bài nói chuyện hùng hồn, thuyết phục mọi người về một chủ đề cực kì hẹp và chuyên sâu. Sau này tôi mới hiểu chính vì chủ đề quá hẹp, nên ông cố tình gây ấn tượng ngay từ đầu để thu hút sự chú ý của khán giả.  Những con số thống kê đúng là ... lợi hại!   
Do đó, một cách dẫn nhập rất hữu hiệu là trưng bày tựa đề bài nói chuyện trong lúc khán giả đang bước vào khán phòng. Rồi sau đó bắt đầu, bằng một màn ảnh trống không và nói với khán giả về một con số thống kê quan trọng trong lĩnh vựuc nghiên cứu của bạn. Sau khi nói về con số thống kê, bạn mới tự giới thiệu về mình và nói tại sao con số thống kê đó có liên quan đến những gì bạn sắp trình bày.
Dĩ nhiên, ban biết tại sao bạn nói đến con số thống kê đó, nhưng khán giả có thể không biết. Và, chính vì thế, nhiệm vụ của diễn giả là nối kết với khán giả. Nếu có thể, dùng các con số thống kê để kể về kinh nghiệm cá nhân của bạn. Một vài ví dụ có thể minh họa như sau:
  1. 73 million papers have been completed in the last 10 years.
  2. Last year 7,300,000 papers were completed.
  3. Every day 20,000 scientific papers are completed.
  4. 14 papers are completed every minute.
  5. In the 10 minutes that I have been talking to you this morning 140 papers will have been completed around the world.
  6. Hands up those of you who have finished writing a paper in the last seven days.
  7. Well around the world, in the last week about 140,000 papers will have been produced, that’s an incredible 14 papers every minute.
  8. By the year 2050 800 million papers will have been written, that’s enough paper to fill this conference room 33,000 times.
Con số thống kê 1 có lẽ quá cao để khán giả có thể hiểu. Con số thống kê 2-4 có lẽ ok, nhưng không có tác động. Con số thống kê 5 thì thú vị bởi vì nói nói lên tính thời gian (ngay tại thời điểm diễn giả nói chuyện), chứ không phải một ngày tháng nào đó. Con số thống kê 6 làm cho khán giả phải lắng nghe câu trả lời. Con số thống kê 7 làm cho khán giả phải so sánh.
5. Tạo điều kiện cho khán giả tưởng tượng
Without introducing yourself or the topic of your presentation, make your first word of your presentation “Suppose. . ..” and then give the audience a hypothetical situation which relates both to the audience and to the topic of your research.

Bản gốc
Bản sau khi chỉnh sửa
My name is Lan and the title of my presentation is Using Protein from Whey-coated Plastic Films to Replace Expensive Polymers. As you can see in this outline slide, I will first introduce the topic of 
Suppose everyone in this room had brought with them today all the food packaging that they had thrown away in the last year. I have counted about 60 people here. Given that the average person consumes 50 kilos of food packaging a year, then that is three tons of packaging.

Over the next 4 days of this conference, we will produce about 450 kilos of packaging, including plastic bottles. My research is aimed at increasing the recyclability of this packaging by 75%. How will we do it? Using protein from whey-coated plastic films to replace expensive polymers.

My name is Lan and 


6. Hỏi khán giả một câu hỏi hay yêu cầu họ dơ tay lên
Một cách hữu hiệu để mắt đầu một bài nói chuyện là làm cho khán giả suy nghĩ về một câu hỏi. Nếu bạn chọn kĩ thuật này, thì bạn phải hỏi câu hỏi, chờ khoảng 2-5 giây, và sau đó tiếp tục. Chẳng hạn như tưởng tượng rằng bạn nói chuyện trong một hội nghị về một bệnh rất hiếm, thì có lẽ không cần phải bắt đầu với một định nghĩ bệnh hiếm là gì, kiểu như:
Rare Diseases are a heterogeneous group of serious and chronic disorders having a social burden.
Bởi vì khán giả có lẽ đã biết bệnh hiếm là gì rồi. Nói như thế chẳng khác gì lên lớp người ta! Thay vì “lên lớp” như thế, bạn có thể nói về một điểm nào đó mà phần lớn họ không biết hay sẽ thấy thú vị. Do đó, bạn có thể viết trên slide hai dòng (chỉ 2 dòng):
1:50,000
1:2,000

Khán giả sẽ lập tức chú ý những con số này nói lên điều gì. Sau đó, bạn mới bắt đầu giải thích:
Do you know anyone who has a rare disease? [Ngưng 2 giây] Well if you are from the United Kingdom, the chances are that you don’t. But if you are from Spain, then you might know someone who does have a rare disease. Does that mean that here in Spain we
have more rare diseases? No, it simply means that our definition of what constitutes a rare disease is different from that in the UK. A rare disease in the UK is something that affects 1 in 50,000 people. In Spain we follow the European Union definition of 1 in 2,000.
That’s a very big difference. Well, my research group has been looking at … The technique is to immediately tell the audience something that they may not know, rather than giving them an abstract definition of something they already know.
Chú ý mỗi câu đều ngắn — và kĩ thuật này giúp khán giả dễ hiểu. Ngưng 2 giây sau khi đặt một câu hỏi có lẽ như là dài đối với diễn giả đang đứng trên bục giảng, nhưng đối với khán giả thì không dài.
Một cách khác là hỏi câu hỏi và yêu cầu khán giả dơ tay:
Bản gốc
Bản sau khi chỉnh sửa
Hello everyone, I am Rossella Mattera, a PhD student in Molecular Medicine. I am here today to tell you about the ExPEC project, in particular about a vaccine against ExPEC.
What is ExPEC? ExPEC or extraintestinal pathogenic Escherichia coli, is a microorganism that causes a large spectrum of diseases associated with a high risk of death. The commonest extra-intestinal E.coli infection that is caused by these strains is cystitis, in fact 80% of women have this “experience” during their lifetime, with a reinfection in less than 6 months …

Hands up the men who have had cystitis.[Ngưng 2 giây] I bet many of the men here don’t even know what cystitis is [nói với giọng đùa]. In this room there are 20 women and 16 of you women will experience cystitis during your lifetime. You men are lucky because cystitis mainly affects women. It is a horrible infection that makes you feel you want to go to the toilet every two or three minutes.

Cystitis is caused by ExPEC or extra-intestinal pathogenic Escherichia coli. This infection affects 80% of women. Cystitis, pyelonephritis, sepsis, and neonatal meningitis are common infections caused by these strains. Most ExPECs are resistant to the antibiotic therapy, therefore we need a vaccine. I am a PhD student in Molecular Medicine. I am here today to tell you about a vaccine against ExPECs.


7. Nói một điều về cá nhân diễn giả
Nói một câu chuyện “tầm phào” về cá nhân bạn (chẳng hạn như lí bạn thích lĩnh vực nghiên cứu này, đề tài này làm bạn chú ý là do yếu tố gia đình, nơi làm việc, hay một lí do nào đó). Một cách khác để bắt đầu bài nói chuyện là nói một điều gì đó mang tính khó hiểu, nghịch lí. Nên nhớ là bạn phải chứng tỏ mình hào hứng với đề tài bằng cách nói cho khán giả biết điều gì làm cho bạn thấy thích thú về đề tài nghiên cứu. Khi bạn nói về cái “passion” của mình về đứa con tinh thần, bạn cần phải tỏ ra tươi tắn, và giọng nói trở nên hồ hởi. Đó chính là một cách làm cho khán giả “nóng lên” – tiếng Anh gọi là warming up!
Bản gốc
Bản sau khi chỉnh sửa
I am going to describe the creation of strawberries with a strong consistency in the pulp. In our research we modified strawberry plants with agrobacterium and we obtained 41 independent transgenic plants. On the basis of yield and fruits firmness, we then selected six different varieties of strawberry.

I became interested in agronomy and biosciences completely by accident. One summer holiday while I was a student I was working in an organic ice cream shop. Every day we got crates of fresh fruit, and every day we had to throw away kilos of strawberries because the ones at the bottom were completely squashed and had already started to mold. The pears, on the other hand, were always fine. So I thought, what if we could mix the succulent look and delicious taste of a strawberry with the strong consistency of the pulp in a pear?

Trong bản gốc, diễn giả khai mạc bài nói chuyện mà không cho khán giả thời gian để động não. Nếu khán giả bỏ sót những gì diễn giả nói ngay lúc này, sự hiểu biết của họ sẽ bị hạn chế. Trong bản được chỉnh sửa, diễn giả trả lời câu hỏi mà nhiều người đang thắc mắc. Khán giả sẽ “thưởng thức” và so sánh trải nghiệm của họ với diễn giả. Kĩ thuật nói một vài điều về diễn giả có thể sử dụng:
  • từ ngữ thông thường như là diễn giả đang nói chuyện với những người bạn;
  • cung cấp vài thông tin hay chi tiết thú vị;
  • trích dẫn từ các nhà nghiên cứu khác;
  • dùng câu văn ngắn và dài một cách … ngẫu nhiên;
  • tỏ ra là mình đang kể chuyện.
8. Đề cập đến một vấn đề thời sự
Diễn giả nên cố gắng suy nghĩ đến một đề tài hay thông tin mà khán giả đang suy nghĩ đến, như một bản tin trên báo chí có liên quan đến hội nghị. Ví dụ:
Bản gốc
Bản sau khi chỉnh sửa
My name is Hung Nguyen and I work at the Center for Transportation Research in …. In my presentation today I would like to tell you the results of an experimental study on real time bus arrival time prediction using GPS data.
I know that a lot of you, like me, have been getting to the conference each day by bus. I don’t know about you, but I have had to wait about 10 to 15 minutes each time. And it’s been great fun. In fact, not only have the buses been late, but as soon as one comes, then another two quickly follow. And that’s made me even happier. Why? Because my research is investigating why this happens—why do buses come in threes? And if it happens here in Geneva, where Rolex have their headquarters, then clearly no one else has solved the problem yet, and I am going to get in there first. My name is Hung Nguyen and 



Trong cách nói trên, diễn giả Hung Nguyen bắt đầu bằng một câu chuyện có thể nói là vô vị (đón xe bus), nhưng khi diễn giả liên đới đến trải nghiệm của khán giả cũng như chủ đề nghiên cứu của diễn giả thì câu chuyện trở nên đáng chú ý. Diễn giả cũng thêm vào một câu vui vẻ mà có lẽ phần lớn diễn giả trong hội trường đang bức xúc. Với kĩ thuật này, diễn giả có thể kiềm giữ sự chú ý của khán giả vào bài nói chuyện.
9. Nói một điều gì ngược lại với trực giác
Người ta nói chung thích được biết quan điểm của mình bị thách thức ra sao. Dĩ nhiên, ở đây chúng ta không bàn đến những quan điểm về các vấn đề nhạy cảm như tôn giáo hay đạo đức. Nếu nghiên cứu của bạn chứng minh một điều gì đi ngược lại với ý kiến phổ biến, thì hội nghị là một diễn đàn lí tưởng để gây chú ý. Ví dụ:

Bản gốc
Bản sau khi chỉnh sửa
In this presentation a comparative analysis will be made of some investigations into the proficiency in the use of the English language on a world scale. The parameters and methodology used to make the analysis, along with some of the results will be presented. I will begin by giving a brief overview of the background 
Who speaks and writes the best English in the world? The British maybe, [Ngưng 2 giây]after all they have the Queen, and that’s where the language originated? [Ngưng] Or do you think it’s the Americans? Or the Canadians or Australians? [Ngưng] Actually it’s the Scandinavians, the Danes, and the Dutch. And if you have been attending most of the presentations here in the last few days, I guess it’s these guys who you understood the best. Does this mean that the native English speakers can’t even speak their own language? Of course not. But 


10. Yêu cầu hay mời khán giả làm một cái gì đó
Tác giả Bjørn Lomborg, một chuyên gia về các vấn đề toàn cầu và là một trong 75 người có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới (theo tạp chí Esquire), thường bắt đầu bài nói chuyện trên TED.com bằng những câu hỏi như
What are the big problems in the world? And I must say, before I go on, I should ask every one of you to try and get out pen and paper because I’m actually going to ask you to help me to look at how we do that. So get out your pen and paper. The bottom line is, there is a lot of problems out there in the world. I’m just going to list some of them. There are 800 million people starving. There’s a billion people without clean drinking water. Two billion people without sanitation. There are several million people dying of HIV and AIDS. The lists go on and on. There’s two billions of people who will be severely affected by climate change—so on. There are many, many problems out there.
In an ideal world, we would solve them all, but we don’t. We don’t actually solve all problems.
And if we do not, the question I think we need to ask ourselves—and that’s why it’s on the economy session—is to say, if we don’t do all things, we really have to start asking
ourselves, which ones should we solve first? And that’s the question I’d like to ask you.
If we had say, 50 billion dollars over the next four years to spend to do good in this world, where should we spend it?
Sau đó, ông mời khán giả suy nghĩ trong vòng 30 giây về 10 vấn đề lớn nhất trên thế giới ngày nay là gì, và sẽ dành ưu tiên giải quyết vấn đề nào. Kĩ thuật này không chỉ trình bày những con số thống kê mà còn gây sự chú ý của khán giả một cách trực tiếp. Điều này có nghĩa là khán giả cảm thấy có động cơ để đi tìm một giải đáp cho vấn đề mà ông nêu ra.
Mời khán giả làm một cái gì đó hay suy nghĩ về một vấn đề gì đó cần phải mời một cách chủ động. Không nên chỉ đứng trên bục giảng một cách thụ động. Phải dùng “body language” (điệu bộ) để gây chú ý. Kĩ thuật này có vài ưu điểm như:
  • diễn giả có thời gian để ổn định trước một nội dung quan trọng;
  • cho khán giả một giải lao ngắn;
  • tạo sự hứng thú trong khán giả, nhất là trong điều kiện diễn giả phải nói chuyện vào buổi chiều (khi phần lớn khán giả đều mệt mỏi và ... buồn ngủ).
Sau khi đọc tất cả 10 kĩ thuật trên đây để bắt đầu một bài nói chuyện, có lẽ bạn đọc sẽ nói một trong hai câu sau đây: (1) đó là những kĩ thuật có ích và tôi có thể thực hành; hoặc (2) tôi không đủ trình độ tiếng Anh và tự tin để thực hành.   Nhưng không có lí do gì bạn không thể thực hành một vài kĩ thuật trên đây. Nhiều nghiên cứu tôi hướng dẫn thoạt đầu còn ngần ngại, nhưng sau khi thực hành một vài lần, họ bắt đầu hứng thú. Có người sau này trở nên thành thạo và còn chỉ lại cho tôi những kĩ thuật “độc đáo” hơn (tôi chưa bàn ở đây). Để có một bài nói chuyện hay, vấn đề không chỉ là nội dung mà còn là hình thức. Bạn cần phải có một chút can đảm (đứng trước đám đông để nói về đề tài mình yêu thích). Bạn cần phải tỏ ra hào hứng với đứa con tinh thần của mình.
Nên nhớ rằng: cần phải phân biệt một nhóm slides và một bài nói chuyện (presentation). Bạn có thể có vài chục slide với hình ảnh và ca bệnh thú vị, nhưng những slides đó không bao giờ trở thành một presentation, nếu mình không “thổi hồn” vào slides và câu chuyện mình sắp trình bày. Cũng cần nhấn mạnh rằng quan tâm đến slides và cách trình bày là một cách chúng ta tỏ lòng tôn trọng khán giả. Khán giả bỏ thời gian và tiền bạc đến nghe và hiểu một presentation, chứ không phải để xem những slides và một cái máy biết nói.
Thế là bạn đọc đã bị "tra tấn" 8 bài liên tiếp về kĩ năng trình bày. Bài này là bài cuối (dù người ta nói never say never again!) Qua 8 bài hướng dẫn về kĩ năng trình bày, tôi hi vọng các bạn đã học hỏi được vài kĩ năng cần thiết trong hội nghị khoa học. Những kĩ năng này thì sách vở viết cũng nhiều, và trên mạng thì cũng chẳng ít.  Nhưng có lẽ họ viết cho người nói tiếng Anh là chính, còn tôi thì viết hay soạn ra như là trải nghiệm cá nhân để chia sẻ hay "truyền nghề" cho các bạn trẻ hơn. Như có bạn đọc viết, đó là những điều “rút gan rút ruột” :-) để chỉ dẫn cho các bạn. Tôi tin chắc rằng khi đọc và thực hành các bạn sẽ cảm thấy mình tự tin hơn và dần dần trở thành chuyên nghiệp hơn trong những lần xuất hiện trong các hội nghị khoa học. (Dĩ nhiên, loạt bài này chỉ nhắm đến các bạn sinh viên hay đang làm nghiên cứu sinh là chính, chứ còn các vị giáo sư này nọ thì không cần đọc vì họ đã quá "nghề" trong các kĩ năng này rồi).
Được phân công hay mời nói chuyện trong các hội nghị khoa học là một vinh hạnh. Trong hàng ngàn abstracts chỉ có 5% hay ít hơn được chọn cho trình bày bằng miệng mà dân trong nghề gọi là oral presentation. Ở viện tôi, nghiên cứu sinh nào được "oral presentation" trong các hội nghị quốc tế lớn thì được tài trợ gần như 100% kinh phí để đi dự.  Lí do đơn giản là oral presentation chính là một cách quảng bá hình ảnh của viện / trường rất hữu hiệu. Với chúng ta, dù mang quốc tịch gì (nhưng họ Nguyễn thì không thể nhầm được), nói chuyện hay trình bày trong các hội nghị khoa học quốc tế là một cơ hội tuyệt vời để quảng bá hình ảnh Việt Nam và người Việt Nam. Mình cần phải tận dụng cơ hội này. Do đó, tôi thường hay nói với nghiên cứu sinh và sẽ nói lại ở đây một lần nữa như là câu kết của loạt bài: Làm gì thì làm, nhớ đừng để mất mặt ba chữ người Việt Nam.
NVT
TB 1. Có bạn nhận xét rằng những gì tôi hướng dẫn chỉ phù hợp cho hội nghị khoa học nước ngoài và đề nghị dịch những “câu tủ” sang tiếng Việt. Cũng là một đề nghị hay, nhưng tôi chưa có thì giờ để làm chuyện đó. Vậy bạn nào có thì giờ thì giúp tôi dịch, và tôi sẽ hiệu đính.
TB 2. Ngày 15 đến 18/8, như đã thông báo trước, tôi sẽ giảng 20 bài trong workshop về cách viết và công bố bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Đây là workshop do một đơn vị của ĐHQG TPHCM tổ chức, tôi chỉ là người giảng bài thôi. Vì thế, các bạn nên ghi danh với ĐHQG chứ không phải với tôi. Trong workshop này sẽ không có bài giảng về cách trình bày, mà chỉ tập trung vào những khía cạnh viết lách trong khoa học. Sẽ có bài tập để thực hành, chắc là … vui lắm. Sẵn đây cũng “quảng cáo” luôn là ngoài workshop ở TPHCM, tôi còn giảng 20 bài về phương pháp nghiên cứu lâm sàng (Design and Analysis of Clinical Studies) ở một đại học phía Bắc.
 Source: Nguyenvantuan.net


Thứ Tư, 22 tháng 2, 2012

Quản lý thời gian

Quản lý thời gian xem chừng cũng là cả một nghệ thuật. tháng 2 này, có bao nhiêu việc dồn lên đầu mình, mọi thứ cức dồn dập tới. Hết công việc ở cty đến chuẩn bj hồ sơ xin việc, học ôn cao học, lo học chuyển đổi , sắp xếp lịch làm những việc khác nữa.
Sao một ngày lại chỉ có 24h nhỉ. Nếu có thể mua được thời gian từ người khác, mình sẽ mua thêm 2h cho 1 ngày nữa. Hehe.
Phần ngủ nghỉ của mình, trung bình 1 ngày ngủ 7 tiếng nó quen rồi, bây giờ rút thời gian ngủ xuống xuống còn 6 tiếng, người cứ mẹt mỏi, đến cty ngáp ngắn ngáp dài.
Phải cố thôi, điều chỉnh lại thời gian, bây h chỉ ngủ 6 tiếng thôi, thời gian của mình ko có nhiều.
Tận dụng tối đa những khoảng thời gian rảnh rỗi.
Cố lên! mình chắc chắn sẽ làm được :D

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2012

Tiếng Anh bài 2. Sai sót trong so sánh



InEmail
Khi đọc bản thảo của các nghiên cứu sinh Á châu, tôi phát hiện một sai sót rất phổ biến trong những câu văn có nội dung so sánh. Chính tôi trước đây cũng từng phạm phải những sai sót này. Trong tiếng Việt, chúng ta có thể nói “Ông A được xếp hạng cao hơn ông B”, và câu văn đó hoàn toàn đúng. Nhưng trong tiếng Anh thì câu văn đó chưa đủ. Trong tiếng Anh, khi viết về so sánh chúng ta cần để ý đến động từ đi kèm theo đối tượng được so sánh.

Câu văn so sánh thường có chủ thể (subject) và đối tượng so sánh (evaluator). Trong câu trên, ông A là chủ thể, và ông B là đối tượng so sánh.

Sai: Trang ranks Michael Jackson higher than Janet Jackson. (Trong câu này, Janet Jackson là đối tượng so sánh, và câu văn này chưa đầy đủ).

Đúng: Trang ranks Michael Jackson higher than she ranks Janet Jackson. 

1. So sánh phải cụ thể 

Trong tiếng Anh, nhất là tiếng Anh cho khoa học, so sánh phải cụ thể, chứ không nên chung chung. Chẳng hạn như câu sau đây:

The mountains in Vietnam are lower and greener than Cambodia

là so sánh kiểu chung chung vì chúng ta không biết so sánh với cái gì ở Cambodia (tiếng Việt ta thì ok vì có thể nói những rặng núi ở Việt Nam cao hơn và xanh hơn Cambodia nhưng trong tiếng Anh thì không được nói như thế). Câu này nên được sửa lại là:

The mountains in Vietnam are lower and greener than the mountains in Cambodia

Hay “văn hoa” hơn một chút bằng sách sử dụng those:

The mountains in Vietnam are lower and greener than those in Cambodia

2. Có thể bỏ as trong so sánh kép

Cả hai as và than thường được sử dụng trong các câu văn so sánh:

In vietnam, the spread of infectious diseases is as ferocious as, if not more ferocious than, in Europe 

Cấu trúc câu này khá “nặng nề” (nhưng không sai). Chúng ta có thể bỏ as mà câu văn vẫn đúng (chú ý cách dùng dấu phẩy):

In vietnam, the spread of infectious diseases is as ferocious, if not more ferocious, than in Europe 

Nhưng thật ra, câu trên, theo tôi có thể viết gọn gàng hơn:

In vietnam, the spread of infectious diseases is at least as ferocious as in Europe 

3. Comparative và superlative 

Qui luật là thế này: câu văn so sánh (comparative) bao gồm 2 đối tượng, còn cấp so sánh (superlative) thì có nhiều đối tượng. Trong ngôn ngữ nói hàng ngày, chúng ta có thể nói

She was the tallest of the twins 

thì chấp nhận được, nhưng trong văn viết thì câu đó chưa chỉnh. Phải viết:

She was the taller of the twins 

hay tương tự:

I am the oldest of three brothers (chứ không phải I am the older of three brothers).

4. Lạm dụng other 

Câu văn so sánh dưới hình thức tính từ thường có một đối tượng được lấy làm chủ thể để so sánh với các đối tượng khác trong nhóm. Có thể sử dụng other trong câu văn viết, nhưng coi chừng sai! Hãy xem ví dụ sau đây:

Ho Chi Minh City is larger than any city in Vietnam
(Câu này có thể hiểu là thành phố Hồ Chí Minh không thuộc nước Việt Nam!)

Nên sửa lại cho rõ ràng hơn:

Ho Chi Minh City is larger than any other city in Vietnam

Câu sau đây có thể khó hiểu:

Hoang is older than any boy in the class 
(Hoang là nam hay nữ?)

Sửa lại:

Hoang is older than any other boy in the class 

Nhưng câu văn sau đây thì thể hiện sự lạm dùng other:

Hoang is the oldest of all the other boys in the class.
(All ở đây bao gồm Hoang; other thì lại loại bỏ Hoang!)

Do đó, cần sửa lại như sau (bỏ other):

Hoang is the oldest of all the boys in the class.
Nguồn: nguyenvantuan.net

Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự


InEmail
Như đã hứa ngày hôm qua, hôm nay ngày cuối tuần tôi viết bài đầu tiên về tiếng Anh. Bài này liên quan đến việc sử dụng giới từ và liên từ. Có lẽ hơi sơ đẳng, nhưng tôi lại nghĩ cần phải bắt đầu bằng những kiến thức sơ đẳng.


Giới từ (preposition) và liên từ (subordinating conjunction) giông giống nhau và có khi khó phân biệt, nhưng có một mẹo dễ phân biệt chúng: đó là nhìn vào từ theo sau chúng.

1. Giới từ thường theo sau bằng một danh tự (nominal): 

Because of the bad weather. (Danh từ weather là đối tượng của giới từ because of).

Before leaving home. (Đây là mệnh đề gerund: leaving home là đối tượng của giới từ before).

After what we had done. (Mệnh đề danh từ [noun clause] what we had done là đối tượng của giới từ after).

2. Liên từ thì theo sau bằng một cấu trúc chủ ngữ - động từ mà không có một mối liên hệ nào khác dính dáng vào. 

Because the weather was bad. (Because là liên từ có chức năng giới thiệu một mệnh đề phụ).

Before we left home. (Before là liên từ giới thiệu một mệnh đề phụ).

Before, after, since, as, until có thể có chức năng vừa là giới từ vừa là liên từ, tùy vào cái gì theo sau chúng: Since this morning; since you went away.


3. If, when, while, although và một số liên từ khác có thể có cấu trúc chủ ngữ - động từ bị hoán chuyển để có chức năng như là một mệnh đề giới từ. 

When you were mopping the floor
When mopping the floor

If it is at all possible
If at all possible

Although he was very upset
Although very upset

Trong các câu trên “when mopping the floor”, “if at all possible” và “although very upset” là những mệnh đề giới từ, và đều đúng văn phạm.

4. Liên từ nối hai câu văn thường là and, but, or, nor, for, yet. Những liên từ này có thể nối 2 từ, 2 câu văn, thậm chí giới thiệu một câu văn mới: 

He said he would do it. And he did.

She had not planned to attend the meeting. Yet she did.

5. Nối kết câu văn. Khi hai câu văn độc lập nhau, nên sử dụng dấu chấm phẩy. Khi hai câu văn có liên quan nhau, dùng dấu chấm câu: 

We watched his folly develop; in fact, we nurtured it.

Thanh was a fantastically successful scientist. However, he did not emerge from his great career a rich man.

Nhưng dấu phẩy cũng thỉnh thoảng được sử dụng:

She was not pleased by his technique. She was delighted, however, by his self-control.
Nguồn: nguyenvantuan.net

Kĩ năng trình bày : Cách ứng đáp trong hội nghị khoa học




http://www.mbpgsu.ca/mbpblog/files/2009/12/ist2_2122524_fear_of_public_speaking.jpgMột báo cáo khoa học lúc nào cũng có phần vấn đáp (question – answer session). Đây là phần quan trọng không kém phần nội dung, vì nó có thể đưa diễn giả lên vinh quang hay tiêu hủy công trình của mình. Nhiều người rất sợ phần vấn đáp, vì nhiều lí do như tiếng Anh kém, không nắm vấn đề vững vàng, và đơn giản hơn … là sợ. Trong bài này tôi sẽ chỉ một số câu văn có thể sử dụng để trả lời và để … trốn. :-)

Nhưng trước khi bàn qua, tôi muốn chia sẻ với các bạn hai câu chuyện cá nhân. Tôi thường hay kể chuyện này trong các workshop ở Việt Nam như là những kinh nghiệm mà tôi trải qua và xem đó là bài học cho người đi sau.
Câu chuyện thứ nhất liên quan đến tôi thời còn đi học. Khoảng 20 năm trước, tôi có một báo cáo quan trọng (bây giờ thì bài đó đã được trính dẫn trên 400 lần) trong một hội nghị quốc tế trên 4000 người. Đó cũng là lần đầu tiên tôi trình bày báo cáo trước cử tọa đông như thế. Rất hồi hộp và … sợ. Sợ mình nói “không ra hồn” sẽ bị thầy mắng cho và làm mất uy tín của nhóm thì rất mệt. Biết được tầm quan trọng, nên thầy tôi rất cẩn thận, chỉ dạy rất nhiều, thực tập cả 5 lần trước khi báo cáo. Thực tập nhiều đến nổi nằm trong khách sạn mà tôi cũng lằm bằm tự nói! Thời đó chưa có powerpoint, chỉ có slide loại 3x3 cm cài đặt vào máy chiếu phim, nên việc chuẩn bị tốn công lắm. Ngồi bên cạnh thầy trên hàng ghế số 1, tôi run lắm, nhưng thầy an ủi và động viên. Ông nói: mày cứ xem đám đông như học trò mình và cứ nói một cách tự tin. Đến khi chủ tọa giới thiệu tên, thầy nói: GO! Lên bục giảng, đứng trước cửa tọa đông cả ngàn người, không thấy ai cả, tôi càng run, nhưng nhờ câu đầu trôi chảy nên tôi nói cũng “ngon lành”. Sau 10 phút nói xong, đến phiên chất vấn 5 phút. Có một ông đứng lên hỏi tôi về weight (trọng lượng) và gãy xương. Ông nói giọng rất khó nghe, và vì hội trường quá lớn nên tôi cũng chẳng thấy mặt mũi ông. Tôi không nghe rõ, nhưng đoán rằng ông ấy hỏi về sway và gãy xương (sway là đề tài tôi trình bày), và thế là tôi trả lời rất tự tin. Ông không hỏi thêm, và tôi hài lòng rằng mình đã trả lời câu hỏi. Những câu hỏi khác thì dễ nên trả lời không có vấn đề gì – tôi nghĩ thế. Đến khi xuống hội trường, ngồi bên cạnh thầy; tôi thấy ông có “mặt hình sự”. Ông không nhìn tôi (tức là có vấn đề) và nói nhỏ vừa đủ tôi nghe, nhưng nói như nghiến răng: you did not answer the guy’s question(mày chưa trả lời câu hỏi của nó). Tôi cãi lại một cách tự tin: I did answer his question (tôi trả lời rồi mà). Ông có vẻ nổi nóng nói (tôi dịch): nó hỏi mày về weight và fracture, chứ nó có hỏi sway đâu. Chữ sway và weight khi đọc cũng giống giống nhau, nhưng ý nghĩa thì rất khác nhau. Ôi, tai nạn! Tôi điếng cả người và im lặng không biết nói sao, và nghĩ chắc sau phiên họp thế nào ổng cũng chửi một trận nên thân. Thấy tôi có vẻ lo lắng, thầy an ủi: thôi, không sao đâu, thằng đó nó cũng chẳng hiểu tiếng Anh gì đâu, vả lại câu hỏi ngu quá! Nói thế thôi, chứ tôi vẫn thấy mình như kẻ thất bại trong lần “ra quân” đầu tiên! Bài học mà tôi rút ra từ kinh nghiệm đó là: nếu không nghe rõ, phải hỏi lại cho chắc ănKhông nên trả lời mà không biết người ta hỏi gì.
Câu chuyện thứ hai liên quan đến nghiên cứu sinh của tôi. Nghiên cứu sinh của tôi tên là B là người Việt từ Việt Nam sang đây học (bây giờ thì cô ta đã xong chương trình và “bay xa” rồi và chắc đang đọc bài này). Xong chương trình masters, vào chương trình PhD đòi hỏi nhiều kĩ năng mềm nhưng quan trọng, trong đó có việc trình bày ở hội nghị khoa học. Hôm đó cũng là một hội nghị quốc tế bên Mĩ, có nhiều “tay to mặt lớn” đến dự trong phiên họp về di truyền học. Đã thực tập nhiều lần, và đã thuộc bài “diễn văn”, tôi thấy an tâm cho B. Trước giờ báo cáo, tôi ngồi lại một lần nữa trong phòng dành cho speakers để cho chắc ăn (trong các hội nghị lớn đều có nơi dành cho speakers với đủ thứ đồ ăn uống, máy tính, internet …). Ngồi trong phòng đó cũng có rất nhiều thầy trò khác đang thực hành như nhóm của tôi. Hai thầy trò bàn đủ thứ câu hỏi có thể có người hỏi, và những câu trả lời cho thông. Ây thế mà sự cố vẫn xảy ra. Bài báo cáo được B trình bày hay, nói năng dõng dạc, mạch lạc, đến nổi sếp tôi ngồi bên cạnh cũng nói: nó nói hay đó chứ mày! Tôi ậm ừ cho qua vì đang hồi hộp chờ đến phiên chất vấn. Một anh đồng nghiệp Hà Lan bước lên microphone đặt câu hỏi, khi đi ngang qua tôi, anh ta nháy mắt một cái như nói xin lỗi, tao phải hỏi trò mày một chút. Anh ta khen kết quả xong rồi hỏi có muốn làm validation với nhóm anh ấy không? Chẳng hiểu lúc đó chị B nhà ta nghĩ gì, mà “phán” một câu: Yeah, I love to do it. Cả hội trường cười ầm lên, sếp tôi ôm đầu cười ngặt nghẽo, còn tôi thì chẳng biết nói gì. Thật ra, B chẳng có trả lời gì sai, vì câu hỏi như thế thì trả lời là yeah cũng chẳng có gì đáng nói. Nhưng người ta cười là vì câu trả lời quá ngắn. Người ta tiêu ra 20 chữ để hỏi, mình cũng phải tiêu ra ít nhất 10 chữ để trả lời. Đáng lẽ B phải “cù cưa” vài câu rồi mới trả lời, chẳng hạn như thank you for your positive comment on our work, I am really keen of an opportunity to work with you in validating my finding, hay Your question is very important, and I love to have a chance to validate my finding in your lab. Thank you. Thật ra, phần lớn những người trong hội trường đều biết B đến từ nhóm nào và mới chỉ là nghiên cứu sinh, nên cũng chẳng ai phàn nàn gì, người ta chỉ thấy vui vì lâu lâu có mấy đứa trẻ ăn nói … thú vị. Nghĩ đi nghĩ lại một cách tích cực hơn, chính cái câu trả lời đó và hội trường cười ầm lên đã làm cho người ta chú ý, nên sau này chắc nhiều người nhớ đến chị B phe ta! Chính anh chàng hỏi câu đó sau này offer một cơ hội để B sang đó làm trong lab của anh ta. Bài học ở đây là: cách trả lời phải lịch sự, có đầu, có đuôi, không quá cụt ngũn dễ gây hiểu lầm là mình đang nổi nóng.
Hai câu chuyện tôi vừa kể chỉ là một cách để nói: đừng bao giờ xem thường phần vấn đáp!  Nhiều khi bài nói chuyện trôi chảy, nhưng đến phần vấn đáp thì … khựng lại. Phần vấn đáp là phần diễn giả thể hiện bản lĩnh của mình, kinh nghiệm, và kiến thức của mình. Tôi đã chứng kiến biết bao nghiên cứu sinh Nhật và Trung Quốc ‘chết đứng’ giữa phần vấn đáp vì họ không hiểu câu hỏi, hoặc không có khả năng trả lời câu hỏi. Do đó, có trường hợp phần vấn đáp làm tiêu tan tất cả những nỗ lực của diễn giả trước đó. Không bao giờ đánh giá thấp phần vấn đáp!
Như nhấn mạnh trong bài trước, diễn giả cần phải chuẩn bị sẵn những câu hỏi khán giả có thể hỏi. Có nghiên cứu tâm lí học cho thấy khi chúng ta bước lên bục giảng, chúng ta chỉ còn nhớ khoảng 50-70% thông tin đã chuẩn bị, phần còn lại bị biến mất theo ... mây khói. Tôi biết một người Mĩ là giáo sư y khoa hẳn hoi, tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ, mà mỗi lần bà nói chuyện trong hội nghị là mỗi lần bà phải uống thuốc để đỡ run! Do vậy, cần phảu chuẩn bị tốt.  Có chuẩn bị vẫn tốt hơn không chuẩn bị. Chuẩn bị tạo cho diễn giả một cơ hội để hệ thống hóa vấn đề và sẵn sàng trả lời những câu hỏi có thể hỏi và đỡ hồi hộp. Sau đây là vài nguyên tắc khi trả lời câu hỏi của đồng nghiệp.
1. Mời khán giả đặt câu hỏi
Sau khi xong phần kết luận (và cám ơn), diễn giả cần có một câu mời khán giả đặt câu hỏi. Cố nhiên, người mời đặt câu hỏi là chủ tọa, nhưng trước khi chủ tọa nói, mình vẫn có thể có vài câu chủ động để mời.  Mời câu hỏi cũng là một cách thể hiện sự tự tin của mình.  Một vài câu nói sau đây có thể dùng trong tình huống đó: 
Thank you for your attention. I would be happy to discuss with you about any point that is not clear in my presentation.
I would welcome any questions you might have.
2.  Lắng nghe kĩ câu hỏi
 Cố gắng lắng nghe câu hỏi. Đừng để như tôi trong câu chuyện tôi kể trên!  Nếu câu hỏi không rõ, mình có thể hỏi lại. Ngay cả nếu không hiểu câu hỏi, diễn giả có thể nói thẳng là “I do not understand your question”. Sau đây là vài câu lịch sự để đương đầu với tình huống vừa đề cập:
Could you be a bit more specific about…?
Would you repeat the second part of your question?
I’m afraid I still don’t understand
I’m sorry. I cannot understand your question. Could you please rephrase it and try to speak a bit more slowly?
I am not sure I understood your question. Would you repeat it?
I wonder if you could be a bit more specific about…
What aspect of the problem are you referring to by saying…?
3. Lịch sự
Khi được hỏi, điều quan trọng là không ngắt lời nói người ta. Khoa học cũng phải dân chủ, tức là phải lắng nghe câu hỏi hay phê bình của đồng nghiệp. Chờ cho họ nói xong, mình mới trả lời. Tuyệt đối tránh kiểu nói “So you are asking me if . . .” vì một câu như thế có vẻ mỉa mai và thách thức người ta.
Có tình huống người đặt câu hỏi dài dòng (hay thấy ở Việt Nam), và điều này chứng tỏ người đặt câu hỏi không hiểu vấn đề hay xem thường người nói.  Nếu câu hỏi dài dòng, có thể lịch sự nói:
Sorry, I am not exactly sure what your question is. I think it might be best if you asked me at the bar.
Trong hội nghị, thỉnh thoảng vẫn có những câu hỏi mà nói trắng ra là ngu xuẩn, kém thông minh [1]. Nhưng dĩ nhiên chúng ta không thể nói như thế với đồng nghiệp, nên cách nói “dễ nghe” hơn là cho rằng câu hỏi không liên quan, nên xin phép không trả lời ở đây: 
Thank you for the question. For me this is a fascinating topic, but I think it might be best if we discuss this during the break. If thats okay with you. Now, does anyone else have any questions?
Người thông minh sau khi nghe như thế đủ hiểu người đặt câu hỏi stupid như thế nào! Nhưng người trả lời thì hoàn toàn văn minh!
4. Ngắn gọn
Phần trả lời lúc nào cũng phải ngắn gọn. Thông thường hội thảo chỉ dành 5 phút vấn đáp, nên phải sử dụng thì giờ hết sức hiệu quả. Trả lời ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề. Tuyệt đối không lên lớp người hỏi mình (dù câu hỏi vô duyên hay ngu xuẩn như thế nào). Không nên bảo người ta phải đọc sách này (đây là chuyện trẻ con), cũng không nói người ta nên xem bài báo nọ (đó là cách khinh thường người ta).
Có nhiều trường hợp (nhất là người Việt) hay khoe kiến thức. Họ thường khoe bằng cách đặt câu hỏi nhưng thật ra là lên lớp giảng bài! Đó là một hình thức cực kì mất lịch sự và trẻ con đối với giới khoa học phương Tây. Có khi chính họ cũng không biết mình mất lịch sự! Trong trường hợp này, diễn giả phải đứng trên họ một bậc - tiếng Anh gọi làstay above. Không bao giờ tranh cãi với họ (vì tranh cãi làm cho khán giả đánh giá mình thấp), nhưng có cách “xua đuổi” câu hỏi / bài giảng của họ:
I think you have raised an interesting point, but I think it is too classic for me to discuss in this audience. It would be great if we could discuss it in the dinner.
Đó cũng là một cách nói để cho thấy người hỏi câu hỏi quá sơ đẳng.
You are absolutely right. I did not mention that point because it is quite technical / because there was no time. But it is covered in my paper.
Đó là cách nói gián tiếp “anh hãy về đọc lại bài của tôi”, một cách nói người đặt câu hỏi quá lười biếng hay đã ngủ gục trong khi diễn giả nói.
5. Những tình huống khó khăn
Bất cứ vấn đề gì đều có thể xảy ra trong phần vấn đáp.  Có thể phân nhóm những câu hỏi thành 5 nhóm sau đây:
(a) khen
(b) chê một cách xây dựng
(c) chê một cách phá hoại
(d) bình luận
(e) lên lớp
Đối với câu hỏi loại (a), chỉ cần nói ngắn gọn kiểu như: Thank you for your comment, I do appreciate your positive words on my work, and I am looking forward to working further ... Đối với (d) thì tùy theo nội dung câu hỏi, nhưng có thể nói chung chung là cám ơn. Đối với kiểu lên lớp (e) thì có thể dùng những câu trên để xua đuổi họ ra chỗ khác.
Đối với câu hỏi chê một cách hằn học (c) thì diễn giả cần phân tích nội dung câu hỏi và trả lời lịch sự nhưng vẫn tỏ ra mình trên họ một bậc. Câu hỏi chê thường là phương pháp không chuẩn, cách diễn giải không phù hợp với dữ liệu, hay là cách đặt vấn đề chưa tốt. Đối với những loại chê này thì diễn giả cần phải tỏ ra mình đứng trên họ một bậc -stay above. Giữ thái độ bình tĩnh. Không trốn tránh vấn đề.  Nếu chê một cách đánh đổ về phương pháp, câu trả lời là: 
Thank you for your interesting question. I consider that my methodology is the state-of-the-art ... The method you suggested is another way to address my problem, but it is not the only way.
Nếu câu hỏi chê về cách diễn giải: 
I gather that you have problems in my interpretation of data. However, I consider that my interpretation is CONSISTENT (nhấn mạnh) with the data shown in Table 2 and Figure 1. Đây là cách trả lời vừa bác bỏ ý kiến của họ vừa ... quảng cáo cho số liệu của mình!
Nếu câu hỏi chê về cách đặt vấn đề, thì có thể trả lời là nhấn mạnh nghiên cứu trước của mình và có ý nghĩa quan trọng (đây là một cách nói reiteration):
The rationale for our work was built on previous research; it is also an extension from our published work. I consider that the present work is significant, because it reiterates the importance of ...
Nếu bất đồng ý kiến với người hỏi, có thể nói thẳng là mình không đồng ý (nhưng lịch sự):
With all due respect, I think that there is no evidence for the association between A and B
I disagree with your comments on …
I think that the importance of…cannot be denied
I am afraid that I have a different interpretation. My interpretation is …
Đó là những câu nói gián tiếp nói người hỏi nên ... im mồm đi, đừng lải nhải nữa!   
Nếu câu hỏi khó quá hay ngoài khả năng, diễn giả có thể … né một cách lịch sự:
I’m afraid I’m not really in a position to be able to address your question yet.
We will come back to that in a minute, if you don’t mind.
I don’t think we have enough time to discuss your comments in depth
I would be happy to talk to you about this after the meeting
Một cách khác là “đá bóng” sang thầy mình (hay một cây đa cây đề nào đó trong phòng). Nhìn xem trong phòng có ai là bậc thầy của mình để đá bóng. Chẳng hạn như nhìn thấy ông Nguyễn nào đó, và mình muốn cho ông ta có dịp lên khán đài trả lời, thì có thể nói:
That certainly is an interesting question. Professor Nguyen will probably be addressing it in his talk later in the session.
Có khi người ta hỏi hơn một câu hỏi. Trong tình huống đó, cách trả lời là chia ra từng câu hỏi để trả lời. Cũng có khi mình quên câu hỏi, thì có thể hỏi lại (I am sorry, what is your second question again?):
There are two different questions here.
With regard to your first question…
Let me address your second question first.
Đó là phẩn trả lời câu hỏi. Hi vọng các bạn đã có vài câu văn nằm lòng để đối phó trong hội nghị lần tới.
(Còn tiếp ...)
NVT
[1] Giống như câu hỏi của ông giáo sư Chu Hạo của Trung Quốc hỏi đoàn Việt Nam trong hội thảo về an ninh ở biển Đông. Ông hỏi rằng có phải vì có Mĩ mà đoàn Việt Nam nói mạnh hay không. Đó là một câu hỏi cực kì mất lịch sự, quá thấp về tri thức (thấp tận cùng bùn đen), ấu trĩ (như con nít), và ngu xuẩn. Không có chữ nào khác hơn là "ngu xuẩn", nhất là trong hội thảo quốc tế. Tôi không biết đoàn VN trả lời ra sao, nhưng nếu là tôi thì chắc chắn báo chí sẽ có một bữa ăn "thịnh soạn" về chữ nghĩa cho ông giáo không mấy sáng dạ này. Trong hội thảo khoa học tôi chưa thấy những câu hỏi như thế, nhưng nếu có thì chắc chắn chủ tọa sẽ bác bỏ chứ không trả lời, mà nếu trả lời thì có lẽ câu đầu tiên là "chửi xéo" ngay cái câu ngu xuẩn của hắn (chẳng hạn như I consider that your explicit and non-sequitur question is inapproproate for a seriously intellectually-charged forum), rồi sau đó sẽ đối đầu với câu cụ thể. 
Nguồn: nguyenvantuan.net